Real Madrid Club De Fútbol - Bầy Kền Kền Trắng

Thảo luận trong 'Sport' bắt đầu bởi Love.Yuna, 21 Tháng năm 2011.

  1. Love.Yuna

    • Nơi thuộc về nỗi nhớ !

    • CPU 100% T_______T
    Làm thành viên từ: 14 Tháng tư 2011
    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 1


    [IMG]

    [IMG]

    [IMG]
    Sơ Lược
    Real Madrid - tên đầy đủ là Real Madrid Club de Fútbol (viết gọn là Real Madrid CF) (theo tiếng Tây Ban Nha: "Câu lạc bộ Bóng đá Hoàng gia Madrid") - là một câu lạc bộ bóng đá nổi tiếng của Tây Ban Nha, được Liên đoàn Bóng đá Thế giới (FIFA) chọn là câu lạc bộ xuất sắc nhất thế kỷ 20. Thành lập ngày 6 tháng 3 năm 1902, thi đấu ở giải bóng đá hạng nhất Tây Ban Nha (Primera Liga), câu lạc bộ không hề bị xuống hạng kể từ khi có giải quốc gia Tây Ban Nha (1928). Ban đầu có tên là Madrid Club de Fútbol (Câu lạc bộ bóng đá Madrid), câu lạc bộ đã được phép dùng danh xưng Real (Hoàng gia) sau khi Vua Alfonso XIII chính thức bảo trợ cho họ vào tháng 6 năm 1920.
    Đội bóng mặc đồ thi đấu toàn màu trắng, nên có biệt danh là Los Blancos (Đội quân trắng). Sân nhà của họ là sân vận động Santiago Bernabéu ở Chamartín, Madrid, khánh thành ngày 14 tháng 12 năm 1947, sức chứa hiện nay là 80.354 khán giả và kích thước đường chạy là 106x72 mét.


    Ngày thành lập: 06/03/1902
    [IMG]
    Địa chỉ: C/ Concha Espina, 1. 28036 Madrid

    [IMG]

    [IMG]
    Sân vận động: EL Santiago Bernabéu

    [IMG]
    Chủ tich vĩ đại nhất: Santiago Bernabéu

    [IMG]
    Chủ tịch đương nhiệm: Florentino Perez

    [IMG]
    HLV hiện tại: Jose Mourinho

    [IMG]
    Biểu tượng
    [IMG]
    Biểu tượng đầu tiên của Real Madrid là một thiết kế đơn giản. Biểu tượng này gồm ba ký tự nghệ thuật được kết văn hoa lại với nhau. Ba ký tự đó là MCF - viết tắt của cụm từ Madrid Club de Futbol. Biểu tượng có màu xanh đậm được in trên nền áo trắng. Biểu tượng được thay đổi lần đầu tiên vào năm 1908, các ký tự được sắp xếp hợp lý hơn và được *****g vào trong một vòng tròn. Nó được giữ nguyên cho đến năm 1920, khi Vua Alfonso VIII đặt CLB dưới sự bảo trợ của Hoàng Gia, CLB có thêm tước vị "Real", theo cách phát âm của từ "Royal" - có nghĩa là Hoàng Gia. Do đó, hình chiếc vương miện của nhà vua Alfonso cũng được đưa vào Biểu tượng của CLB lúc này đã có tên mới là Real Madrid Club de Futbol. Với sự tan rã của chế độ quân chủ vào năm 1931, tất cả các biểu tượng liên quan đến Hoàng gia đều phải loại bỏ. Và do đó hình chiếc vương miện trên Biểu tượng của CLB cũng như danh hiệu "Real" đều bị loại bỏ trong những năm đó. Thay vào đó là một dải màu dâu chín đậm biểu trưng cho vùng Castile. Đến năm 1941, hai năm sau cuộc nội chiến, biểu tượng "vương miện Hoàng gia" lại được trả lại, và vẫn giữ nguyên dải màu dâu chín đó. Ngoài ra màu sắc của biểu tượng cũng được sửa đổi, theo đó Biểu tượng có đầy đủ các màu với màu chủ đạo là màu của kim loại vàng, và CLB lại được gọi với cái tên Real Madrid Club de Futbol.
    [IMG]
    Sửa đổi gần đây nhất là vào năm 2001, khi CLB muốn có một vị thế cao hơn nữa ở thế kỷ 21 và hơn hết là chuẩn hóa Biểu tượng của CLB. Một trong những thay đổi đáng kể lần này là Sọc viền màu dâu chín được in có bóng xanh hơn.


    [IMG]
    Sân Vận Động: Estadio Santiago Bernabeu

    Ra đời vào tháng 3 /1902 nhưng REAL đã phải lưu lạc khắp nơi trước khi có được 1 SVĐ vào 10 năm sau đó ( CLB phải trả 1000 pesetas mỗi tháng )
    [IMG]

    Ngày 17/5/1924 đội có 1 SVĐ riêng là Chamartin nhưng sân này chỉ tồn tại được khoảng 10 năm rồi bị san phẳng trong cuộc nội chiến.
    [IMG]
    Năm 1943 Don Santiago Bernabeu trở thành chủ tịch Real và ông đã phát động 1 cuộc quyên góp XD SVĐ mới. Kết quả là CLB thu được 41 triệu pesetas.
    Ngày 22/6/1944, Real có trong tay 5 ha đất và 1 tháng sau SVĐ được XD. Trong suốt mùa bóng 1946-1947 Real đã phải đấu nhờ trên sân Metropolitano của kình địch Atletico với điều kiện là các thành viên của đội này vào xem Real thi đấu miễn phí.
    Ngày 14/12/1947 New Chamartin Stadium được khánh thành. Từ 1955, nó được mang tên vị chủ tịch huyền thoại Santiago Bernabeu.Trong những năm 50, đây là nơi chứng kiến Real gây khiếp đảm cho cả Châu Âu, và trước thành công đó sức chứa của sân được nâng lên thành 125.000 chỗ.
    [IMG]
    Để phục vụ cho World Cup 1982 sức chứa của sân giảm xuống còn 92.000 chỗ ngồi.
    Năm 1990, do lệnh của FIFA bãi bỏ những chỗ đứng sân đã xây dựng thêm 1 khán đài mới gồm 20.000 chỗ ngồi-có độ nghiêng 87%.
    Estadio Santiago Bernabeu luôn là 1 trong những SVĐ đẹp nhất thế giới: kích thước sân là 105 x 65 m, sức chứa 106.000 người. Sân toạ lạc tại Avenida Concha EspinaI với những kết cấu hết sức hiện đại: mái vòm bằng sợi ciment, những màn hình video khổng lồ... Bên dưới mặt cỏ là 36 km đường ống với những van phun nước nóng lạnh tuỳ theo vùng khiến nhiệt độ có thể sai lệch đến 16 độ C. Cỏ sử dụng ở đây được nhập về từ Melbourne (Australia), những năm gần đây người ta chuyển sang sử dụng giống cỏ trồng ở đảo Mallorca.

    Đây là 1 trong số ít ỏi những sân đã tổ chức trận CK World Cup (1982) .Ngoài ra sân đã tổ chức nhiều trận chung kết cúp Châu Âu khác. Estadio Bernabeu từng là thánh địa của ĐT TBN trong hơn 40 năm, là nơi chứng kiến họ giành được danh hiệu duy nhất trong LS - Vô Địch Châu Âu năm 1964. Do sức ép từ các miền khác như Andalucia, Basque, Catalonia mà giờ đây ĐT TBN không còn thi đấu trên sân này nữa và nhiều người tin rằng chính vì thế họ đã đánh mất đi sức mạnh thủa nào.
    [IMG]

    MỘT SỐ ĐIỂM ĐẶC BIỆT VỀ ESTADIO BERNABEU:
    + Năm 1980, tại đây đã xảy ra trận CK Copa del Rey hy hữu nhất trong lịch sử: Real đấu với Castilla (Real B).
    + Mùa bóng 1942-1943, trên sân này Real tiếp đại kình địch Barca trong trận lưọt về Copa del Rey sau khi đã thua 0-3 ở lượt đi. Nhưng Real đã thắng với 1 tỷ số không tưởng là 11-1 và lọt vào vòng trong. Đây là trận thua đậm nhất trong lịch sử của Barca trước Real.
    + Đây là một trong số rất hiếm hoi các SVĐ trên TG từng tổ chức đầy đủ các trận CK Champions League, UEFA Cup, Cúp C2, Euro, World Cup và cả Intercontinental Cup.
    [IMG]
    [IMG]
    [IMG]
    [IMG]
    [IMG]
    [IMG]
    [IMG]
    [IMG]


    [IMG]
    Bài hát truyền thống: Himno del Real Madrid
    [PLAY]http://www.nhaccuatui.com/m/d4s5FcK3Jv[/PLAY]
    Lyric:
    De las glorias deportivas,
    que campeon por Espana
    va el Madrid con su
    bandera,
    limpia y blanca que no
    empana.
    Club castizo y generoso,
    todo nervio y corazón,
    veteranos y noverles,
    veteranos y noverles,
    miran siempre sus laureles
    con respeto y emoción.
    Hala Madrid!, Hala Madrid!
    Noble y bélico adalid,
    caballero del honor.
    Hala Madrid!, Hala Madrid!
    A triunfar en buena lid,
    defendiendo ty color
    Hala Madrid!, Hala Madrid!
    Hala Madrid!
    Enemigo en la contienda,
    cuando pierde da la mano
    sin envidias ni rencores,
    como bueno y fiel hermano.
    Los domingos por la tarde,
    caminando a Chamatín,
    las mocitas madrilenas,
    las mocitas madrilenas
    van alegres y risuenas
    porque hoy juega su Madrid

    Hala Madrid!, Hala Madrid!
    Noble y bélico adalid,
    caballero del honor.
    Hala Madrid!, Hala Madrid!
    A triunfar en buena lid,
    defendiendo ty color
    Hala Madrid!, Hala Madrid!
    Hala Madrid!




    [IMG]
    Thành tích
    [IMG]

    [IMG]

     Cúp Liên lục địa: 3
    1960, 1998, 2002
     Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu/Champions League: 9
    1955, 1956, 1957, 1958, 1959, 1965, 1998, 2000, 2002
     Cúp UEFA: 2
    1984, 1985
     Siêu cúp bóng đá châu Âu: 1
    2002
     Vô địch Tây Ban Nha (La Liga): 31
    1931/32; 1932/33; 1953/54; 1954/55; 1956/57; 1957/58; 1960/61; 1961/62; 1962/63; 1963/64; 1964/65; 1966/67; 1967/68; 1968/69; 1971/72; 1974/75; 1975/76; 1977/78; 1978/79; 1979/80; 1985/86; 1986/87; 1987/88; 1988/89; 1989/90; 1994/95; 1996/97; 2000/01; 2002/03; 2006/07; 2007/08.
     Cúp Nhà vua (Copa del Rey): 17
    1904/05; 1905/06; 1906/07; 1907/08; 1916/17; 1933/34; 1935/36; 1945/46; 1946/47; 1961/62; 1969/70; 1973/74; 1974/75; 1979/80; 1981/82; 1988/89; 1992/93.
    Trường hợp độc đáo là trận chung kết Cúp Nhà vua năm 1980, Real Madrid gặp đội dự bị của họ là Castilla (đội này thi đấu ở hạng nhì, nay gọi là Real Madrid B), và đội "đàn anh" đã thắng 6-1.
     Siêu Cúp Tây Ban Nha (Supercopa de España): 8
    1988; 1989; 1990; 1993; 1997; 2001; 2003; 2008.
     Cúp Liên đoàn bóng đá Tây Ban Nha (Copa de la Liga): 1
    1984/85.
     Vô địch khu vực: 18
    1903/04; 1904/05; 1905/06; 1906/07; 1907/08; 1912/13; 1915/16; 1916/17; 1917/18;
    1919/20; 1921/22; 1922/23; 1923/24; 1925/26; 1926/27; 1928/29; 1929/30; 1930/31.
    Các giải thưởng khác
     Cúp Santiago Bernabéu: 18
    1981; 1983; 1984; 1985; 1987;
    1989; 1991; 1994; 1995; 1996;
    1997; 1998; 1999; 2000; 2003;
    2005; 2009;2010
     Cúp Latinh: 2
    1955; 1957.
     Cúp Bách niên AC Milan: 1
    2000.
     Cúp Thế giới Nhỏ: 2
    1952; 1956.
     Cúp Teresa Herrera: 8
    1949; 1953; 1966; 1976; 1978;
    1979; 1980; 1994.
     Cúp Thành phố Barcelona: 3
    1983; 1985; 1988.
     Cúp Ramón de Carranza: 6
    1958; 1959; 1960; 1966; 1970;
    1982.
     Cúp Benito Villamarín: 1
    1960.
     Cúp Thành phố La Línea: 5
    1978; 1981; 1982; 1986; 2000.
     Cúp Ciutat de Palma: 4
    1975; 1980; 1983; 1990.
     Cúp Euskadi Asegarce: 3
    1994; 1995; 1996.
     Cúp Colombino: 3
    1970; 1984; 1989.
     Cúp Thành phố Vigo: 2
    1951; 1982.
     Cúp Cam (Orange Cup): 2
    1990; 2003.
     Cúp Mohamed V: 1
    1966.
     Cúp Thành phố Caracas: 1
    1980.
     Cúp Iberia: 1
    1994.
     Cúp Mancomunado: 5
    1931/32; 1932/33; 1933/34; 1934/35;
    1935/36.
     Cúp Año Santo Compostelano: 1
    1970.


    [IMG]
    Real Madrid - Những con số kỷ lục

    Biểu tượng của Real Madrid được trang trí bởi một vương miện màu vàng - một hình ảnh thể hiện sự vĩ đại, quyền lực và huyền thoại. Trên thế giới không đâu có nhiều Cúp VĐ như trong phòng truyền thống của Real Madrid: gần 3.500 chiếc Cúp lớn nhỏ, sáng loáng, được xếp theo trình tự thời gian trong cái gọi là " Sala de trofeos". Thật choáng ngợp.
    Nói đến Real Madrid có thể bạn nghĩ ngay đến một CLB xuất sắc nhất thế kỷ 20, nhưng còn lịch sử của nó thì sao? Nếu bạn thực sự quan tâm, hãy bước vào - " Những con số kỷ lục của Real Madrid ".

    1. Chuỗi các trận chỉ thắng và hoà dài nhất: 31 trận ( từ vòng đấu 36 mùa bóng 1987 - 1988 đến vòng đấu 28 mùa bóng 1988 - 1989 ).

    2. Chuỗi các trận chỉ thắng và hoà dài nhất trong một mùa bóng: 28 trận ( tại các mùa bóng 1968 - 1969 và 1988 - 1989 ).

    3. Số trận thắng nhiều nhất trên sân nhà trong một mùa bóng: 18 ( 1987 - 1988 ).

    4. Số trận thắng nhiều nhất trong một mùa bóng: 28 ( 1987 - 1988 ).

    5. Số trận thắng liên tục nhiều nhất trong một mùa bóng: 15 ( 1960 - 1961 ).

    6. Số trận thắng trên sân khách nhiều nhất trong một mùa bóng: 11 ( 1986 - 1987 ).

    7. Số trận thắng liên tục nhiều nhất trên sân nhà: 24 ( từ vòng đấu 14 mùa bóng
    1988 - 1989 đến vòng đấu 21 mùa bóng 1989 - 1990 ).
    8. Số trận thắng liên tục trên sân khách nhiều nhất: 7 ( 1960 - 1961 ).

    9. Số trận hoà nhiều nhất trong một mùa bóng: 15 ( mùa bóng 1978 - 1979 ).

    10. Số trận liên tục không thua trên sân nhà nhiều nhất: 121 ( từ vòng đấu 23 mùa bóng 1956 - 1957 đến vòng đấu 25 mùa bóng 1964 -1965 ).

    11. Số mùa bóng không thua trận nào trên sân nhà: 23.

    12. Kỷ lục về thời gian không thua trên sân nhà: 2.940 ngày ( 8 năm và 18 ngày ).

    13. Số mùa bóng không thua trận nào trên cả sân nhà và sân khách: 1 ( 1931 - 1932 ).

    14. Số mùa bóng thắng tất cả các trận trên sân nhà: 3 ( 1959 - 1960, 1962 - 1963, 1985 - 1986 ).

    15. Số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa bóng: 107 ( 1989 - 1990 ).

    16. Số bàn thắng nhiều nhất ghi được trên sân nhà trong một mùa bóng: 78 ( 1989 - 1990 ).

    17. Số bàn thua ít nhất trên sân nhà trong một mùa bóng: 5 ( 1931 - 1932 ).

    18. Kỷ lục về số tuần liên tục không bị thủng lưới lần nào trên sân nhà: 7 ( 1984 - 1985 ).

    19. Chiến thắng với tỷ số cao nhất trên sân nhà: thắng CLB Elche 11 - 2 ( mùa bóng 1959 - 1960 ).

    20. Chiến thắng với tỷ số cao nhất trên sân khách: thắng Zaragoza 7 - 1.

    21. Tỷ số thua đậm nhất: thua Espanyol 1 - 8 ( mùa bóng 1929 - 1930 ).

    22. Giành danh hiệu vô địch sớm nhất trong một mùa bóng: 5 vòng đấu trước khi giải kết thúc.

    23. Khoảng cách điểm lớn nhất so với đội dứng thứ hai tại Primera Liga: 12 điểm ( trong 3 giải ).


    24. Số lần đạt vị trí cao nhất tại Primera Liga: : 31 ( là đội vô địch Liga nhiều nhất Tây Ban Nha ).

    25. Thứ hạng nhiều lần giữ nhất tại Primera liga: thứ nhất ( 31 lần ).

    26. Vị trí xếp hạng thấp nhất tại Primera Liga: 11 ( 1947 - 1948 ).

    27. Là đội vô địch Cúp C1 nhiều lần nhất: 9.

    28. Là đội duy nhất đoạt Cúp C1 5 lần liên tiếp: ( 1955 - 1956, 1956 - 1957, 1957 - 1958, 1958 - 1959, 1959 - 1960 ).

    29. Cầu thủ đoạt danh hiệu vô địch nhiều lần nhất tại Real Madrid: Gento ( 6 lần vô địch Châu Âu, 12 lần vô địch Primera Liga, 3 Cúp Tây Ban Nha và một Cúp Liên lục địa. )

    30. HLV dành nhiều danh hiệu vô địch nhất tại Real Madrid: Miguel Munoz ( 9 Primera Liga, 2 Cúp Châu Âu, 1 Cúp Liên tục địa).

    31. Chủ tịch CLB dành nhiều danh hiệu vô địch nhất: Santiago Berbabeu ( 6 Cúp Châu Âu, 1 Cúp Liên lục địa, 16 Primera Liga và 6 Cúp Tây Ban Nha.)

    32. Cầu thủ chơi nhiều trận nhất trong sắc áo Real Madrid ở giải hạng Nhất Primera Liga: Sanchis ( 819 trận ).

    33. Cầu thủ chơi nhiều trận nhất tại các giải bóng đá Châu Âu: Sanchis ( cầu thủ duy nhất chơi hơn 100 trận ).

    34. Số cầu thủ đóng góp cho ĐT Tây Ban Nha: 108.



    [IMG]
    Real Madrid, hành trình lịch sử nhuốm đầy mồ hôi, nước mắt và vinh quang

    Lịch sử của Real Madrid song hành một cách kỳ diệu với đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha nói riêng và nền bóng đá Thế giới nói chung. Bởi lẽ ở đất nước của xứ sở đấu bò tót này, ít có CLB nào có ảnh hưởng lớn lao và để lại nhiều dấu ấn đến thế trong bề dày lịch sử của nền bóng đá đất nước. Và hơn bao giờ hết, đó là đội bóng của vinh quang, nơi khai sinh ra những thiên tài bóng đá của Tây Ban Nha và cả Thế Giới bóng đá như: Di Stefano, Puskas, Gento, Kopa, Munoz, Pirri, Santamaria, Netzer, Fernando Hierro... cho đến hiện giờ họ vẫn nắm giữ vận mệnh của bóng đá thế giới cùng những siêu sao xuất sắc nhất thế giới như Zidane, Ronaldo, Raul, Figo, Carlos, Beckham, Michael Owen, Guti, Ramos, Salgado, Casillas...
    [IMG]

    Trong suốt hơn 100 năm qua cái tên Real Madrid đã có ý nghĩa thật lớn lao với biết bao tín đồ của bộ môn túc cầu giáo. Đối với những cổ động viên trên toàn thế giới thì Real là hình ảnh, là giá trị đích thực nhất của bóng đá Tây Ban Nha và cả châu lục. Với "huyền thoại số 1" vị Chủ tịch vĩ đại nhất trong lịch sử Real Madrid Ngài Santiago Bernabéu đã cống hiến tất cả tài năng, sức lực và cả trí tuệ cho CLB này, cho đến bây giờ nối tiếp chiếc ghế đầy quyền lực 1 thời của Bernabéu vĩ đại, cũng lại là một "Santiago Bernabéu II" đó chính là đương kim Chủ tịch hiện thời Florentino Perez (có lẽ chúa đã cho Bernabéu đầu thai để xuống lãnh đạo Real lần nữa), với những con người vĩ đại như thế thì đấy là một sự may mắn và đáng tự hào, vì thế đâu có gì là lạ khi tủ kính trưng bầy hào nhoáng ở phòng truyền thống mỗi năm một nhiều thêm những chiếc Cup, những chiến công hào hùng. Và đối với hơn 41 triệu người Tây Ban Nha thì đó là một thứ tình yêu vô bờ bến đã ngấm sâu vào máu họ, một thứ tình yêu chung thuỷ không thể xoá nhoà. Bởi Real Madrid là tượng đài lớn nhất của bóng đá Tây Ban Nha mà người ta có thể tự hào... Bất chấp Barca hùng mạnh đã gây tiếng vang lớn lao ra khắp thế giới, Real Madrid vẫn sẽ luôn là đội bóng đầu tiên người ta nhắc đến khi nói về bóng đá Tây Ban Nha. Đội bóng này không chỉ tạo ra những ngôi sao, nó còn góp phần quan trọng trong việc hình thành bộ mặt và sự phát triển của cả một nền bóng đá Châu Lục. Đội tuyển Tây Ban Nha vô địch Euro các năm 1964, hạng nhì Euro 1984,... thường xuyên có quá nửa là những cầu thủ của Real có mặt trong đội hình chính thức (thậm chí Euro 2004 vừa rồi có tới 7 người đang khoác chiếc áo trắng của Madrid (là Raúl Gonzaléz, Ivan Helguera, Fernando Morientes, Iker Casillas, Michel Salgado, Guti, Raúl Bravo). Chất Latin của Real bao trùm lên tất cả các hoạt động của đội bóng và hơn thế họ khơi dậy tinh thần yêu nước lớn lao với một đội ngũ những cầu thủ Tây Ban Nha trong đội hình. Real Madrid luôn có những cầu thủ Tây Ban Nha xuất xắc nhất thế hệ của họ và luôn đóng góp một phần rất lớn cho Matador, điều phân biệt với những đội bóng khác vốn chỉ lệ thuộc vào những cầu thủ nước ngoài.

    Thời kỳ vinh quang nhất của CLB diễn ra trong khoảng thời gian từ năm 1956-1966, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Santiago Bernabéu. Đó là thời kỳ của những chiến thắng huy hoàng trên tất cả các mặt trận. Trong đó có kì tích 5 lần liên tiếp đăng quang tại Cup C1 trong 6 chiếc Cup dưới thời Bernabéu (một kì tích gây chấn động cả thế giới, nó còn hơn sức công phá của 2 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống 2 thành phố Hidroshima và Nagasaki của Nhật ở Đại Chiến Thế Giới lần thứ II).
    [IMG]
    Những công trạng đó chỉ có thể được tạo nên bởi một vị "thánh". Đó không phải ai khác mà chính là "thánh" Santiago Bernabéu ông đã lần lượt đưa về những cầu thủ huyền thoại: Di Stefano, Puskas, Rial, Munoz, Gento.... đặc biệt nhất trong số đó là Di Stefano với biệt danh "mũi tên vàng", sản phẩm của thứ bóng đá đẹp mê hồn với những vũ điệu khét tiếng mềm mại làm say đắm lòng người như một vũ công Balê chuyên nghiệp chính lối đá "vĩ đại" này đã tạo ra một Real Madrid "siêu thành công" và giúp CLB Hoàng Gia Real Madrid giành tới, 5 Cup C1 trong 5 năm, 15 Liga trong vòng 15 năm. Vào bất cứ thời điểm nào của những năm 50 và 60, Real đều có thể tin cậy vào những tài năng mang sắc áo Trắng tinh, Real đang có trong đội hình của mình cả một thế hệ vàng của bóng đá thế giới, và 5 người trong số họ tạo thành"bộ ngũ huyền thoại" (ngũ hổ tướng) thống trị thế giới bóng đá của CLB (tại thời điểm này Real Madrid mạnh đến nổi mà người ta phải thốt lên rằng "họ... Real Madrid đang dọn dẹp phần còn lại của thế giới bóng đá", đúng là lúc này chỉ có những kẻ điên mới lao đầu vào làm đối thủ của The White)... đó mới chỉ là một chút hào quang của câu chuyện. Muốn hiểu rõ hơn về lịch sử vĩ đại của đội bóng - CLB vĩ đại nhất hành tinh REAL MADRID

    06/03/1902
    Tất cả mọi thứ chỉ thật sự bắt đầu từ cái ngày định mệnh 06/03/1902. Một nhóm fan hâm mộ bóng đá họp nhau lại và đưa ra quyết định chính thức thành lập CLB bóng đá Madrid - Madrid Foot Ball Club đồng thời thành lập ban lãnh đạo đầu tiên, Gồm: Chủ tịch Juan Padrós Rubio, phó chủ tịch Enrique Varela, thư kí Manuel Mendía, José de Gorostizaga, Treasurer cùng một số hội viên là Antonio S. Neyra, Mario Giralt, Carlos Mertens. Álvaro Spottorno y Arturo Meléndez. Trang phục thi đấu của Real Madrid được mô phỏng theo kiểu mẫu của CLB nổi tiếng nhất thời bấy giờ London Corinthians (quần trắng, áo trắng và tất trắng)

    [IMG]
    [IMG]
    Thành viên đội bóng năm 1902


    1902 – 1920
    Với chủ tịch đầu tiên là Juan Padrós Rubio, Real Madrid bắt đầu giao đấu với các đội bóng ở thành phố khác...
    Ngày 9/3/1902 Madrid thi đấu trận đầu tiên với đội "bà con họ hàng" cùng CLB, đây giống như một buổi tập luyện hơn là một trận đấu, điều này giúp ích cho ban lãnh đạo để chọn ra một đội hình ưu tú nhất và khuyến khích các fan hâm mộ sớm thành lập hội cổ động viên. Đội hình 2 đội trong trận đấu đó được xếp như sau: BLUE (quân xanh): Melédez, J. Padrós, Spottorno, Gorostizaga, Mendía, Páramo, Neyra, A. Giralt, F. Placios, Martens và Rodero. RED (quân đỏ) J. Giralt, Meléndez, Molera, Salvador, Valcárcel, Spottorno, Stampher, J. Palacios, Varela, Celada và Bueno. Trong trận đấu này bàn thắng không quan trọng (BLUE đã thắng 1 - 0) Trận đấu diễn ra trên sân bóng nằm tại đại lộ Plaza de Toros. Tài sản lúc đó của CLB chỉ là một cửa hiệu mang cái tên "Al Capricho" nó thuộc sở hữu riêng của anh em nhà Padrós và quán rượu La Taurina, nơi đây chính là đại bản doanh "sơ khai" khi đó của CLB (sau này được chuyển tới Casa Blanca).

    22/3/1902 EL "Heradldo del Sport" biệt danh của cầu thủ ghi bàn thắng đầu tiên cho đội, Ngài Mr Arthur Johnson, và chính người đàn ông Anh Quốc này sẽ trở thành HLV trưởng đầu tiên cho đội. Johnson sẽ bắt tay vào tổ chức cơ cấu đầu tiên cho bài bản hơn - chuyên nghiệp hơn

    16/04/1902 Ban Lãnh đạo đội bóng quyết định nhờ đến thế lực của Ngài thị trưởng thành phố Madrid để được sự ủng hộ về mặt danh nghĩa lẫn tài chính đủ sức đăng cai tổ chức giải đấu nhằm kỷ niệm buổi lễ đăng quang của Vua Alfonso XIII, chính vì thế mà chiếc Cup nhà vua ra đời - bây giờ nó đã trở thành một giải đấu chính thức có tên gọi là Copa del Rey, đội vô địch sẽ được người đứng đầu Hoàng Gia Tây Ban Nha hiện thời trao tặng danh hiệu, nói chung là Vô địch Copa del Rey sẽ vinh dự được nhận Cup vô địch từ chính tay Đức Vua hiện giờ là Juan Carlos trao tặng
    [IMG]
    Vua Alfonso XIII của Tây Ban Nha Thế kỷ XX

    [IMG]
    Vua Juan Carlos hiện tại của Tây Ban Nha

    Ngày 13/05/1902 Giải vô địch bắt đầu bằng trận khai mạc nảy lửa, đó chính là trận thư hùng rực lửa trong sân bóng lẫn trên khán đài (hay còn có tên gọi là trận derby quốc gia) giữa 2 đại kình địch Barcelona và Real Madrid. Đội bóng đến từ xứ Catalan với một loạt cầu thủ nước ngoài trong đội hình, đã giành được chiến thắng 3-1. Như một sự an ủi, Real Madrid đã nện cho Espanol sau đó đến lượt "đại kình địch" Barcelona bằng tỉ số 3-2, để chính thức đoạt danh hiệu đầu tiên trong lịch sử đó là chiếc Cup Copa de la Gran Pena, danh hiệu đầu tiên này đã mở đầu cho ý tưởng thành lập nhà truyền thống (phòng lưu niệm những chiến tích) để trưng bày các chiến công và đây chính là chiếc Cup đầu tiên được vinh dự đặt vào tủ kính

    08/04/1903 thất bại trong trận chung kết Primera Liga lần thứ hai trước Alhlétic de Bilbao 3-2. Sau khi kết thúc trận đấu đội trưởng của Real Madrid, J. Giralt "dằn mặt" đội trưởng của Athletic, Mr. Astorquia, "món nợ ngày hôm nay, sẽ sớm được trả trong mùa bóng tới..."

    01/04/1904 Madrid gia tăng lực lượng với Moderno, Amicale (những cầu thủ người Pháp) và Moncloa. Carlos Padrós nhận chức chủ tịch CLB bóng đá Madrid - Madrid Association of Soccer Clubs đồng thời tiếp quản luôn Real Madrid, thay thế người anh Juan của ông ta

    16/04/1905 Madrid đoạt chức vô địch Cup nhà Vua Tây Ban Nha lần đầu tiên trong lịch sử, sau khi đánh bại Athlétic Bilbao 1-0 bằng bàn thắng của Prast (người mà nhận bóng từ Pedro Parages)
    [IMG]
    Madrid FC năm đó đánh bại Athletic Bilbao 1-0 tại Santiago Bernabéu

    23/10/1905 Carlos Padrós cố tình sắp xếp trận đấu quốc tế đầu tiên, đây chính là dịp để ông ấy gặp lại chủ tịch người Pháp M. Loubet khi tới Madrid. Đó là một trận hoà (1-1) giữa Gallia Sport (đến từ Paris) gặp Real Madrid tại trường đua ngựa

    10/04/1906 Madrid đánh bại Athletic (của xứ Basque) 4 - 1 để đoạt danh hiệu Cup Nhà Vua TNB lần thứ hai. Trước trận đấu này, ở bán kết Real đã nện cho đội bóng lấu đời nhất Tây Ban Nha CLB Huelva Recreation bằng tỉ số 3-0
    [IMG]
    Madrid FC đánh bại Athletic Bilbao 4-1 lần thứ 2 liên tiếp tại Santiago Bernabéu

    30/03/1907 Madrid đoạt đoạt danh hiệu Cup Nhà Vua TNB lần thứ ba sau khi đánh bại Vizcaya, cám ơn bàn thắng quí giá của Prast. Nó sẽ là chiếc cup đầu tiên và ý nghĩa của riêng cá nhân anh cùng CLB, bởi vì nó giành được sau 3 năm liên tiếp.
    [IMG]
    Madrid FC đánh bại Club Vizcaya 1-0 trong trận chung kết tại Santiago Bernabéu

    13/04/1908 Copa del Rey lần thứ tư liên tiếp cuối cùng cũng thuộc về Real, sau khi CLB của chúng ta đánh bại Sporting de Vigo 2 - 1. Cùng năm này, Adolfo Meléndez được bổ nhiệm làm chủ tịch và thành lập ban lãnh đạo mới.Carlos Padrós thì được bầu làm chủ tịch danh dự từ trước đến nay!
    [IMG]
    Madrid FC đánh bại Sporting de Vigo 2-1 tại Santiago Bernabéu để dành Cup Nhà Vua

    Ngày 31/10/1912 Lễ khánh thành sân ở O'Donnell. Khu đất có chủ là Laureano García Comiso và anh ta cho Real mướn với giá 1.000 pesetas mỗi tháng. Dó chính là nơi khởi đầu sự nghiệp của một tiền đạo trẻ vĩ đại, tên anh ấy làSantiago Bernabéu

    30/10/1916 Sau vài năm thi đấu với những kết quả không tốt, nhưng thật may mắn cuối cùng thì trận chung kết Primera Liga cũng đến với đội, với một trận thắng trước Athlétic de Bilbao bằng tỉ số 4-0. Trước khi, Real đoạt Primera Liga, một cái "tít" rằng họ đã trắng tay kể từ năm 1913 đến nay. Nhưng nhờ một vài thay đổi của ban lãnh đạo mang về Adolfo Meléndez như là chủ tịch danh dự của CLB

    15/05/1917 Madrid lập trại huấn luyện đặc biệt với từng nhóm cầu thủ. Teus, Erice, Eulogio, Aranguren, Ricardo Alvarez, Antonio de Miguel, El Científico, Sansineca, anh em nhà Petit, Castell, Bernabéu, Sotero Aranguren... Đồng thời, trong năm này Real đoạt Cup Nhà Vua TBN lần thứ 5 sau hai trận chung kết gặp Arenas de Guecho tại Camp Nou với tỷ số 2-1
    [IMG]
    Madrid FC đánh bại Arenas de Guecho tại Camp Nou với tỷ số 2-1 để lần thứ 5 đoạt Cup

    29/06/1920 Lịch sử ghi nhận. Đức vua Tây Ban Nha ban tước hiệu Hoàng Gia - Royal "Real" cho CLB. Kể từ đó trở đi, CLB luôn mang cái tước hiêu "Real" đầy ngạo nghễ trước cái tên Madrid của mình. Real Madrid được khai sinh từ đó...




    [IMG]
    Những cột mốc đáng nhớ

    Ngày 13/12/1920 Đội bắt đầu chuyến du đấu quốc tế tại Bồ Đào Nha, đây là chuyến du đấu đầu tiên ra nước ngoài này rất quan trọng. Các cầu thủ sẽ học hỏi được những cái hay và sự nổi tiếng "sacatrás" của 2 đội bóng lâu đời nhất Bồ Đào Nha là Benfica và Oporto. Sau đó, họ còn có chuyến sang Italy, nơi mà họ thi đấu 5 trận với Torino, Liorna, Bolonia và Genova. Lần đầu có những trận cọ xát quốc tế như thế này sẽ giúp CLB tích luỹ được nhiều kinh nghiệm hơn và vững vàng hơn cho tương lai

    09/04/1923 Sân ở Ciudad Lineal được khánh thành. Với trận mở màn Madrid đánh bại Irún 2-0 (cả 2 bàn thắng đều ghi do công của José María Ubeda). Cùng thời gian này, người anh em "ngỗ nghịch" Atlético cũng đang xây dựng Metropolitano, Nhờ vậy thủ đô Madrid trở thành trung tâm bóng đá của cả quốc gia

    17/05/1924 Sân Chamartín được khánh thành phần khung, nó được xây dựng nhờ công lao của José María Castell. Anh trai Hoàng Thân D. Gonzalo phát trái bóng danh dự trong trận đấu đầu tiên khai mạc sân Chamartín giữa hai đội: Chủ nhà Madrid và nhà vô địch đến từ quốc đảo sương mù (Anh Quốc) khi đó là Newcastle

    27/08/1926 Madrid có chuyến du đấu sang Anh, Đan Mạch và Pháp. Nhưng kết qủa thật tệ hại Madrid đã thất bại trong các trận đấu giao hữu ở đây. Sau khi trở về Madrid, ngay lập tức họ phải chạm trán "đại kình địch" FC Barcelona, chỉ có điều khác là lúc đó họ đã thay đổi mẫu đồng phục thường thấy (bắt trước kiểu mẫu áo của người Anh, quần đen và áo có sọc vạch ngang) Trở lại với trận gặp Barca: Sau trận đấu căng thẳng này phóng viên thể thao Quesada kể lại tình huống việt vị và quả Penanty cố ý của trọng tài khi sức ép Madrid để loại chúng ta khỏi bán kết

    09/07/1927 Băt đầu một chuyến du đấu thành công tại Châu Mĩ, người dẫn dắt đội lúc này không ai khác mà chính là "Đại huyền thoại" Santiago Bernabéu. Kết qủa thật ấn tượng: trong 16 trận đấu, Real thắng 9, thua 4 và hoà 3, ghi được 44 bàn thắng chỉ để lọt lưới 22 bàn. Nhưng quan trọng hơn hết là Lục địa mới (Nam Mĩ) đã biết đến tài nghệ và người Nam Mĩ rất hâm mộ Real Madrid

    13/06/1943 Một khát vọng, một hoài bảo lớn được ấp ủ của CLB cuối cùng đã "nổ" ra sau trận thua 3-0 tại Montjuich, và gặp Barcelona ở trận tranh Cup vô địch lượt về, Madrid đã hạ nốc ao đội bóng đến từ xứ Catalan thù địch, biết thế nào là "bậc thầy" và "học trò" bằng tỉ số kinh hoàng 11-1. Người dân Madrid và kẻ bại trận Barca sẽ không bao giờ quên được ngày này
    [IMG]
    Trận thắng lịch sử El Classico bằng tỉ số kinh hoàng 11-1

    [IMG]
    Real nâng cao cup sau khi hạ Barcelona bằng tỉ số kinh hoàng 11-1

    15/09/1943 Một ngày hết sức trọng đại đến vận mệnh lịch sử của CLB Hoàng Gia Tây Ban Nha Real Madrid. Santiago Bernebéu được các thành viên nằm trong ban lãnh đạo bổ nhiệm vào chiếc ghế đầy quyền lực tối cao của thế lực Trắng (hầu hết các thành viên đều ủng hộ). Với con người vĩ đại này, những trang sử hào hùng nhất của đế chế Madrid không chỉ còn gói gọn trong phạm vi của xứ sở bò tót nữa, mà cả Châu Âu phải ngã mũ kính phục, thậm chí Nam Mĩ hay Châu Á... cũng hết lời ca tụng đò chính là Bernabéu một con người vĩ đại từ trong tâm hồn lẫn thể xác mà gần 50 năm qua người Madrid nói riêng hay người Tây Ban Nha nói chung khi nhắc đến ông ai cũng hãnh diện và khâm phục...

    22/06/1944 Santiago Bernabéu bắt đầu đề ra các dự án thiết yếu cho CLB, đầu tiên ông mua một khu đầt rộng để xây dựng cái sân vận động mới vì sân cũ Chamartín chưa xứng với tầm cỡ của Real lúc này và nhân chuyện này ông muốn đặt nền móng mới, vững chắc hơn cho CLB.

    27/10/1944 khu đất tại Chamartín được xem là vùng đất thánh - khu vực thiêng liêng nhất được chọn để bắt đầu khởi công xây dựng. Santiago Bernabéu chọn nơi này, và ông ví nó như việc xây dựng một công trình đồ sộ tương tự như đấu trường Coliseum vĩ đại ở nước Ý nhưng khác là nó được xây trên đất Tây Ban Nha
    Ngày 06/03/1952 kỷ niệm 50 năm ngày sáng lập CLB Hoàng Gia Tây Ban Nha Real Madrid. CLB tròn 50 tuổi, một nửa thế kỷ của Lịch sử bóng đá thế giới nói chung và cá nhân đội bóng nói riêng đã trôi qua thật nhanh.

    27/12/1953 Alfredo Di Stéfano chính thức gia nhập đội, anh ấy chính là siêu sao đầu đàn, và là cầu thủ lớn nhất trong lịch sử bóng đá. Việc thương lượng để mua tài năng vĩ đại này khá căng thẳng và rắc rối khi mà "đại kình địch" Barcelona cũng muốn có được "Mũi tên vàng" - biệt danh của Di Stéfano. Cuối cùng thì, Anh ấy cũng là người của The White, đây đúng là một quyết định rất, rất...rất...sáng suốt của ban lãnh đạo đội bóng khi ấy mà đặc biệt là sự chỉ đạo của Chủ tịch Bernabéu phải quyết tâm giành được Di Stéfano bằng mọi giá (cũng xin nói thêm vào thời gian này nhờ uy quyền của nhà độc tài tướng Franco - ông là một trong những cổ động viên trung thành và cuồng nhiệt nhất của Real, nên toà án lẫn Ban liên đoàn Tây Ban Nha phải chịu phép trước CLB Blanco là điều đương nhiên), Di Séfano sẽ là một con bài chiến lược trong việc làm thoã mãn tham vọng vĩ đại của CLB và đưa Real Madrid đến tầm cao mới
    [IMG]
    Alfredo Di Stéfano thủ lĩnh của "ngũ hổ tướng" Madridista năm xưa

    01/07/1955 Santiago Bernabéu được sự hỗ trợ của hai đồng sự, đây được xem là hai chìa khoá tượng trưng cho thành công của người "Madrid": Antonio Calserón làm quản lí đội và Raimundo Saporta (người mà sau đó sẽ trở thành phó Chủ tịch CLB Hoàng Gia RM). Với kiến thức sâu rộng và uyên bác của 3 vị "tiền bối" đó chính là yếu tố căn bản cho sự thành công và phát triển sau này của CLB

    08/09/1955 Real Madrid xuất hiện lần đầu tiên tại Cup vô địch Châu Âu (khi đó còn có tên gọi là Cup C1 Châu Âu đến tận bây giờ đổi tên thành UEFA Champions League danh giá) Với những nỗ lực chỉ bảo tận tình của Chủ tịch Santiago Bernabéu cùng ban lãnh đạo đội bóng cùng với những sự chuẩn bị tốt nhất, chu đáo nhất. Xin cám ơn vị Chủ tịch vĩ đại Bernabéu về những gì tốt nhất ông dành cho đội bóng để bước vào "chiến trướng" khốc liệt nhất Châu Âu để làm tròn xứ mạng, trong sự kì vọng lớn lao của các fan hâm mộ Madrid và toàn thể nhân dân Tây Ban Nha yêu mến môn thể thao vua

    13/06/1956 Real Madrid chính thức đăng quang ngôi Vô địch Châu Âu lần đầu tiên và cũng là lần đầu tiên khai sinh ra Giải đấu danh giá nhất thế giới này. Trên đất Pháp, chính xác là tại Paris. Real thi đấu với đội bóng Pháp Stade from Reims (với những hảo thủ như Kopa, Fontaine, Piantoni và Vincent) nhưng vẫn phải chịu khuất phục trước Real vĩ đại đang hừng hực khí thế, trên khán đài thì có sự chỉ đạo của "vị thánh" Bernabéu còn trên sân thì Alfredo Di Stéfano tung hoành ngang dọc như một cánh chim đầu đàn dẫn dắt RM đến tột đỉnh của vinh quang và hạnh phú, trong trận chung kết với thắng lợi 3-4 trên sân khách đội quân áo trắng huyền thoại đã ngồi chễm trệ trên ngai vàng Bá chủ của Châu Âu lần đầu tiên
    [IMG]
    Đội hình Vô địch Châu Âu lần đầu tiên năm 1956

    11/04/1957 Tại SVĐ với một sức chứa kỷ lục trong một trận trạm trán nảy lửa giữa siêu cường Tây Ban Nha Real Madrid và siêu cường quốc đảo sương mù Manchester United, đây là một trong những trận đấu kinh điển trong lịch sử CLB. Nó đúng là một buổi tối đáng nhớ, khi các chàng "hiệp sĩ" dũng cảm của thành Madrid đối mặt với những con "quỉ đỏ" đến từ sào huyệt Manchester, đó là tình hình nóng bỏng trên sân còn trên khán đài Bernabéu hàng ngàn cái miệng, không chính xác là 100.000 khán giả hò hét cổ động nhiệt tình cho đội bóng thân yêu của mình. Nhưng kết qủa cuối cùng thìnhững con "qủi dữ" đến từ nước Anh cũng bị các chàng trai Madrid với tinh thần quả cảm khuất phục một cách dễ dàng

    18/05/1963 Ciudad Deportiva (khu liên hợp thể thao) được khánh thành, đây là tài sản lớn nhất của CLB khi ấy và là chỗ bắt đầu tương lai cho các cầu thủ trẻ trưởng thành từ lò đào tạo tại chỗ của Real Madrid

    10/08/1963 Tại Venezuela quân du kích chống chính phủ F.A.L.N quyết định bắt cóc Di Stéfano nhằm gây tiếng vang đối với dư luận thế giới. Chính quyền tối cao của Tây Ban Nha tại Nam Mĩ và các nước Mĩ Latin gấp rút nhảy vào cuộc nhằm giải cứu "thiên tài" bóng đá này. Những tin tức nhận được chỗ ẩn náu của tổ chức này để đàm phán, và cuối cùng cuộc đàm phán đã có hiệu quả, ông ấy đã được thả ra, nhưng nó sẽ là một nỗi ám ảnh lớn đối với cá nhân huyền thoại này. Trên thực tế rất may là Di Stéfano không bị vấn đề tâm lý nào?

    18/04/1965 Madrid đoạt chức vô địch Championship lần thứ 5. Trong mùa giải này đội đã thành lập được một đội hình hoàn hảo "Hippy" gồm nhiều cá nhân xuất sắc: Grosso, Pirri, Sanhís, De Felipe, Morollón...

    11/05/1966 Đội hình "Hippies" đoạt Cup C1 Châu Âu, Chiếc Cup thứ 6 được khắc tên Real Madrid ngạo nghễ một lần nữa. Ngay tại thời đểm này đây là một độI hình tuyệt vời, một sự kết hợp đầy khoa học giữa các tài năng trẻ cùng với những cầu thủ giàu kinh nghiệm . Chính độI hình này đã "làm thịt" Partizan from Belgrade và giành lại chiếc ghế bá chủ Châu Âu mà người Madrid đã chờ đợi mấy năm nay. Khi đó Châu Âu chỉ biết nói về tài năng lỗi lạc của người khổng lồ Tây Ban Nha Real Madrid
    [IMG]

    07/06/1967 CLB Real Madrid, Các fan hâm mộ và tạp chí bóng đá chung ý kiến tôn vinh cầu thủ vĩ đại nhất lịch sử của CLB qua mọi thời đại là: Alfredo Di Stéfano. Tên của ông mãi gắn với mọi sự kiện quan trọng của đội bóng này

    19/05/1971 RM tham dự giải Recopa (Cup C2) lần đầu tiên. Paco Gento, sau 18 năm chinh chiến trong màu áo trắng truyền thống của Real (hiện nay vẫn chưa ai có thể sánh bằng thành tích mà Gento đạt được trong đó có 6 chiếc Cup C1 Châu Âu là chuỗi chiến tích oanh liệt nhất, vĩ đại nhất), anh chơi một trận cuối cùng trong màu áo trắng truyền thống của CLB để giã từ sân cỏ

    14/12/1972 kỷ niệm lần thứ 25 ngày thành lập sân vận động Santiago Bernabéu, Một buổi lễ kỷ niệm long trọng, để tôn vinh tài năng của Gento tài ba. Liên đoàn bóng đá thế giới tôn vinh ông ấy là nhân vật tiêu biểu nhất ở vị trí cầu thủ chạy cánh hay nhất và xuất sắc nhất từ trước đến nay

    24/06/1974 Âm hưởng chiến thắng vang dội của người Madrid về Chiếc Cup vô địch, sau khi vượt "Đại kình địch" Barcelona 4 - 0 đây đúng là một điều tuyệt vời cho người Madrid. Người dẫn dắt RM trong trận đại thắng Barca lần đó là "đại tướng quân" Molowny người mà thay thế cho HLV Miguel Munõz (ông rời CLB sau 25 năm gắn bó trên cương vị cầu thủ lẫn HLV với một mình CLB

    03/09/1975 Thêm một mất mát nữa cho bóng đá Tây Ban Nha và Thế giới bóng đá, Khi Amancio Amaro nói lời chia tay sự nghiệp bóng đá của chính mình. Cầu thủ vĩ đại này là một trong những huyền thoại được kính phục nhất tại Madrid - và ông mãi mãi là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ của RM mai sau tiếp tục phát huy truyền thống vinh quang của các bậc đàn anh. Để kỷ niệm huyền thoạI này CLB đã tổ chức một trận đấu chia tay của người đàn ông vĩ đại có biệt danh là 3 "G": Great - vĩ đại, Genius - thiên tài, và Galician - người khổng lồ dũng cảm

    17/03/1977 Một số sự kiện quan trọng trong năm là lễ kỷ niệm LXXV - 75 năm ngày sáng lập đội bóng Hoàng Gia. Một buổi lễ long trọng để kỷ niệm lịch sử hào hùng đầy vinh quang, đồng thời tôn vinh 75 năm tồn tại và phát triển của đội bóng

    29/04/1978 Real chiêu mộ được tuyển thủ xuất chúng người Đức là Ulrich Stielike, người mà sẽ đá cặp cùng Juanito sau này. Hai cầu thủ khác nhau, hai quan niệm về bóng đá khác nhau, 2 thần tượng lớn trong lòng các fan hâm mộ The White

    02/06/1978 Một ngày đau buồn cho cả bóng đá thế giới, đặc biệt là người dân Madrid và nhân dân Tây Ban Nha. Một điều mà trong tâm trí người hâm mộ bóng đá nhất là các fan Real Madrid không hề muốn... chính xác hơn là không bao giờ dám nghĩ tới. Chủ tịch Santiago Bernabéu vĩ đại qua đời. Đằng sau những thành công kì vĩ của Real Madrid chính là nhờ bàn tay nhào nặn của người "cha" vĩ đại của The White người mà đã cống hiến hết tài năng, trí tuệ, mồ hôi lẫn công sức vào đội bóng mà ông xem như đứa con cưng mà mình đứt ruột đẻ ra trong suốt 35 năm làm chủ tịch... không chỉ có 35 năm thôi đâu, kể từ năm 17 tuổi - tức năm 1900 Bernabéu đã hiến dâng cuộc đời tươi đẹp của mình cho Madrid, khi tham gia đội trẻ Real và chơi ở vị trí tiền đạo, Ông ghi được hơn 1000 bàn thắng trong suốt sự nghiệp thi đấu của mình từ tuyển trẻ cho đến đội hình chính. Đến khi làm Chủ tịch đội bóng chính ông đã đặt nền móng cho Real Madrid bước vào một kỷ nguyên mới kỷ nguyên của thành công, để trở thành một siêu cường, tầm ảnh hưởng của Bernabéu có tác động mạnh mẽ đến Real cho đến tận bây giờ...
    Và cũng xin chắc chắn khẳng định rắng tại Madrid - tại CLB Hoàng Gia Real Madrid dù có qua bao nhiêu thế kỷ đi nữa người ta vẫn mãi kính phục Santiago Bernabéu. Nói chung đây là nỗi đau khôn nguôi của Real Madrid khi mất đi một người "cha", đó chính là một mất mát không thể bù đắp được - Santiago Bernabéu mất đi ư...! Không...không bao giờ có chuyện đó, khi mà trong lòng các fan hậm mộ The White Bernabéu vĩ đại luôn sống mãi trong tâm trí họ - khi nhắc đến sân vận động Santiago Bernabéu đó chính là minh chứng rõ nhất là "Cha" vẫn sống trong lòng Madrid - chỉ khác bây giờ ông đã trở thành "vị thánh" để bảo hộ cho Real Madrid luôn chinh phục được những đỉnh cao của vinh quang

    31/09/1978 Luis de Carlos lên nhận chức Chủ tịch CLB, đây là giai đoạn ra đi của các Siêu sao và các ngôi sao lớn trong đội bóng.

    31/08/1979 Nỗi nhớ khôn nguôi về người "cha" vĩ đại Bernabéu vì thế ban lãnh đạo quyết định tổ chức giải đấu mang tên Bernabéu, chính vì thế Danh hiệu Santiago Bernabéu ra đời từ đó - Giải đầu tiên có 4 đội mạnh của bóng đá Châu Âu tham dự gồm Real Madrid, Ajax Amsterdam, Bayern Munich và AC Milan. Và cho đến bây giờ hàng năm đều diễn ra 1 trận đấu kỷ niệm mang tên Cup Bernabéu Trophy
    30/05/1985 Real Madrid kết thúc mùa giải với những hành động đầy fail-play về mặt thể thao lẫn trong bóng đá. Sau 5 năm trời không có thành tích ở giải Vô địch, Chỉ có chiếc Cup UEFA là danh hiệu duy nhất đội giành được nhờ công của những ngôi sao: Hugo Sánchez , Gordillo và Maceda đang trong giai đoạn đỉnh cao của sự nghiệp cùng các cựu binh (Gallego, Juanito, Valdano, và Santillana) cộng với các cầu thủ trẻ trưởng thành từ lò đào tạo "made in Real Madrid"cho ra đời "cái khung" của một đội bóng xuất sắc nhất trong lịch sử CLB lẫn lịch sử bóng đá thế giới
    [IMG]
    Thế hệ "vàng son" của những năm 1980-1990 của Real Madrid

    06/03/1991 Real Madrid kỉ niệm 90 năm lịch sử câu lạc bộ. Kể từ cái ngày định mệnh 6/03/1902 mà một nhóm fan hâm mộ đã sáng lập ra đội bóng vĩ đại Real Madrid club de futball. Sau 90 năm tồn tại và phát triển (32.850 ngày) tràn ngập niềm vui chiến thắng lẫn nỗi buồn thất bại đó chính là những dư vị ngọt ngào & cay đắng trong những tháng năm lịch sử màu nhiệm của đội bóng Hoàng Gia Tây Ban Nha

    16/12/1993 Tại thánh địa Nou Camp của đại kình địch FC Barcelona, trong khuôn khổ siêu cup Tây Ban Nha, đội bóng đến từ thủ đô, RM có trận hoà với đội chủ nhà của xứ Catalan Barca với tỉ số 1-1, nhưng cuối cùng người đoạt cúp vẫn là các chàng trai Madrid hào hoa, bởi vì tại trận lượt đi diễn ra ở Madrid, ngày 2/12 ngay tại thánh đường Bernabéu chúng ta đã dành chiến thắng 3-1

    07/05/1994 Công việc nâng cấp và mở rộng sân vận động Santiago Bernabéu được hoàn tất, với việc khánh thành chỗ đứng của khán giả trong sân. Một kỷ lục mới của CLB đó chính là 110.000 khán giả kéo đến sân trong buổi chiều ngày hôm đó khi Real đụng độ Barca

    27/05/1994 Real đoạt Cup vô địch Iberia Cup khi đánh bại Boca Junior với tổng tỉ số 4-3. Trận lượt đi, hai đội chơi tại sân vận động Santiago Bernabéu và kết thúc với chiến thắng 3-1 cho người Madrid, sau trận lượt về tại Buenos Aires, lần này là chiến thắng cho đội bóng giàu truyền thống nhất của người Argentina bằng tỉ số 2- 1

    01/07/1994 Jorge Valdano tiếp quản đội hình một của Real. Vị HLV trưởng này trở lại Madrid lần này là trên cương vị HLV và được kì vọng rất nhiều là mang về tất cả chiếc Cup vô địch tại các mặt trận mà RM tham dự (sau những chiến tích của ông tại CLB Tenerife). Song hành với vị HLV người Argentina này là hàng loạt tên tuổi xuất sắc gia nhập đội như: Fernando Redondo, Michael Laudrup, Amavisca, Quique Flores y Cañizares
    [IMG]

    12/01/1998 Real Madrid chính thức được Liên đoàn bóng đá Thế giới FIFA bầu là CLB có lịch sử hào hùng và vinh quang nhất. Alfendo Di Stéfano cùng Ferenc Puskas được xếp trong Top 10 cầu thủ vĩ đại nhất lịch sử bóng đá thế giới qua mọi thời đại.


    20/05/1998 Real Madrid đăng quang Cup C1 Châu Âu lần thứ 7, sau khi hạ gục Juventus 1-0 tại trận chung kết ở Amsterdam Arena (Hà Lan), chiến thắng này có công lao rất lớn bởi người ghi bàn thắng duy nhất là "siêu sao" Pedja Mijatovic
    [IMG]
    Cup C1 Châu Âu lần thứ 7 trong trận chung kết tại Amsterdam Arena (Hà Lan)
    24/05/2000 Real Madrid giành được chiếc Cup Châu Âu lần thứ 8 sau khi hạ knock-out Valencia 3-0 ở trận chung kết ngay tại sân Saint Denis ở Paris, đây là trận chung kết đầu tiên giữa hai đội thuộc cùng một quốc gia gặp nhau tại lịch sử Champions League
    [IMG]
    Real Madrid đăng quang ngôi vô địch Châu Âu lần thứ 8 tại sân Saint Denis ở Paris

    23/12/2000 FIFA chính thức trao tặng Real Madrid danh hiệu CLB xuất sắc nhất thế kỷ XX. Đương kim Chủ tịch Florentino Perez và Chủ tịch danh dự Alfredo Di Stéfano đại diện CLB đi nhận phần thưởng cao quí này do chính tay chủ tịch FIFA Joseph Blatter trao tặng
    [IMG]
    CLB xuất sắc nhất thế kỷ XX

    Ngày 6/3/2002 Real Madrid tròn 100 tuổi. Đó là một ngày đặc biệt với mọi người dân ở thủ đô Madrid, một ngày tràn đầy hạnh phúc của "Đại Gia Đình" Real Madrid, mặc cho đội chơi không được tốt ở cúp Nhà Vua để cho Deportivo qua mặt. Nhưng ban lãnh đạo vẫn quyết định tổ chức buổi lễ trang trọng nhất để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 cho CLB xuất sắc nhất thế kỷ XX (được đích thân chủ tịch FIFA Joseph Blatter trao ngày 23/12/2000) Trong buổi lễ ban lãnh đạo hứa rằng những năm tháng tiếp theo sẽ là những ngày tháng viết lại lịch sử bóng đá thế giới của The White - Madrid sẽ lấy lại những gì đã mất - sức mạnh - lòng tin của người hâm mộ - và vị trí số một của mình...
    [IMG]
    Không phải chờ lâu (15/5/2002) - The White ngay lập tức đã đáp lại tấm chân tình của các Madridista - Real Madrid đăng quang ngôi vô địch Châu Âu lần thứ 9 trong lịch sử sau khi đánh bại CLB Bayer Leverkussen (Đức) bằng hai bàn thắng của Raul & Zidane. Đây là lần thứ hai cũng tại Glasgow Hampden Park, đội bóng Hoàng Gia lên ngôi vua. "vũ đài" Scotland trở thành bất tử và được xem như thánh địa thứ II của Real chỉ sau sân Santiago Bernabéu huyền thoại
    [IMG]
    Real Madrid đăng quang ngôi vô địch Châu Âu lần thứ 9 trong lịch sử
    [IMG]
    [IMG]

    [IMG]
    Real Madrid & Những Vị Chủ Tich Đáng Kính

    Julián Palacios, 1900-02, chủ tịch của đội bóng lúc ban đầu
    Juan Padrós, 1902-04, chủ tịch đầu tiên khi thành lập câu lạc bộ
    Carlos Padrós, 1904-08
    Adolfo Meléndez, 1908-16
    Pedro Parages, 1916-25
    Luis de Urquiio, 1926-29
    Luis Usera Bugallal, 1929-35
    Rafael Sánchez Guerra, 1935-39
    Adolfo Meléndez, 1939-40
    Antonio Santos Peralba, 1940-43
    Santiago Bernabéu, 1943-78
    Luis de Carlos, 1978-85
    Ramón Mendoza, 1985-95
    Lorenzo Sanz, 1995-2000
    Florentino Pérez, 2000-06 (từ chức)
    Fernando Martín, 27 tháng 2 – 26 tháng 4, 2006 (từ chức)
    Luís Gómez-Montejano, 26 tháng 4 – 3 tháng 7, 2006 (tạm quyền)
    Ramón Calderón, 2 tháng 7, 2006 – 16 tháng 1, 2009
    Vicente Boluda, 16 thasng1, 2009 - Tháng 6, 2009
    Florentino Pérez, tháng 6 ,2009 – đến nay




    [IMG]
    Các Danh Thủ Trong Lịch Sử Real Madrid

    Ricardo Zamora
    Jacinto Quincoces
    Ciriaco Errasti
    Luis Regueiro
    Francisco Gento Lopes
    Juanito Alonso
    Manuel Sanchis
    Alkorta
    Gregorio Benito Rubio
    Miguel Munoz
    Luis Monowny
    Antonio Betancort Bandera
    Santillana
    Emiliano Butragueno
    Martin Vazquez
    Marquitos Izmaz
    Felix Ruiz
    Mateos
    Fleitas
    Jose Antonio Camacho
    Vicente del Bosque
    Fernando Serena
    Miguel Chendo
    Garcia Remon
    Rafael Gordillo
    Luis de Sol
    Miera
    Isidro
    Grosso
    Zarraga
    Canario Silveira
    Santamaria Iglesias
    Jose Michel
    Juan Gomez Juanito
    Hector Rial Laguia
    Castellano
    Amancio Amaro
    Francisco Buyo
    Pahino
    Manuel Velazquez
    Juan Sebastian Troyano
    Alfonso Perez
    Pirri
    Antonio Maceda
    Miguel Angel Gonzales
    Guenter Netzer
    Paul Breitner
    Ulrich Stielike
    Bern Schuster
    Davor Suker
    Predrag Mijatovic
    Fernando Redondo
    Didi
    Raymond Kopa
    Afredo Di Stefano
    Michael Laudrup
    Ivan Zamorano
    Hugo Sanchez
    Gallego
    Jorge Valdano
    Christian Panucci


    Những danh thủ sẽ được lưu danh trong bảo tàng của Real Madrid
    Fernando Hierro
    Raul Gonzales
    Luis Figo
    Zinedine Zidane
    Ronaldo
    Roberto Carlos



    [IMG]
    Những cầu thủ Real đã từng đoạt danh hiệu Pichichi !

    1. Manuel Olivares (2/4/1909) - “Pichichi” đầu tiên, mùa giải 32/33 (16 bàn)
    Sau nhiều năm chơi cho Real Sociedad và Alaves, Manuel Olivares chính thức đầu quân về Real năm 1931. Dù chỉ thi đấu cho CLB này trong 3 mùa bóng, nhưng Olivares đã lập tức giành danh hiệu vua phá lưới. Olivares là tiền đạo tài ba và rất khéo léo. Ông có thể rê bóng bằng cả 2 chân và nổi tiếng với những pha đánh đầu, ghi bàn vào lưới đối phương.

    2. Pahino (21/1/1923) – chuyên gia dứt điểm, mùa giải 51/52 (28 bàn)
    Đây là cầu thủ chơi hiệu quả nhất mà Real từng có. Pahino tên thât là Manuel Fernandez Fernandez. Năm 1948 ông rời Deportivo, gia nhập Real Madrid. Với những cú sút “sấm sét”, thuận cả 2 chân, Pahio dường như được sinh ra để làm tiền đạo. Đây là một trong những cầu thủ ghi bàn chất lượng nhất của Real.


    3. Di Stefano (4/7/1926) – tiền đạo số 1, mùa giải 53/54 (27 bàn)
    Alfredo Di Stefano Laulhe sinh tại Buenos Aires, Argentina. Ông được xem là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất mọi thời đại. Ngay lần đầu tiên ra mắt tại Bernabeu, ông đã khiến mọi người ngỡ ngàng trước tài năng của mình. Di Stefano được xem là có công lớn trong sự phát triển của Real. “Mũi tên vàng” là biệt hiệu mà mọi người đặt cho ông vì sự xuất sắc ở tất cả các vị trí hậu vệ, tiền vệ và tiền đạo. Trong màu áo của Real, ông đã 5 lần giành danh hiệu cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải.


    4. Puskas (2/4/1927 ) – cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất thế kỉ 20, mùa giải 59/60 (26 bàn)
    Ferenc Puskas sinh ra và lớn lên tại Budapest. Pukas gia nhập Real Madrid mùa hè năm 1958, khi đã 31 tuổi và không chơi bóng trong suốt 2 năm trước đó. Những điều này không ngăn cản Pukas 4 lần giành được danh hiệu cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất.. Thời điểm đó, không ai có thể sánh được với ông trong những pha ghi bàn đầy uy lực, chính xác và vô cùng thông minh. Liên đoàn thống kê bóng đá quốc tế đã bầu chọn ông là Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất thế kỉ 20.

    5. Amancio (16/10/1939) – “Tắc kè hoa”, mùa giải 68/69 (14 bàn)
    Amancio sinh tại La Coruna, TBN. Ông khởi đầu sự nghiệp bóng đá từ rất sớm, khi mới 15 tuổi. Amancio nổi tiếng với những pha đi bóng lắt léo, và biến hóa khôn lường. Nổi tiếng với biệt danh “Tắc kè hoa”, Armancio có một khả năng ghi bàn đáng kinh ngạc. Cùng với Real, Amancio đã giành Cup vô địch châu Âu lần thứ 6.

    6. Juanito (10/11/1954) – thiên tài bóng đá, mùa giải 83/84 ( 17 bàn)
    Juan Gomez “Juanito” sinh tại Fuengirola, Malaga. Sau khi rời Burgoss năm 1977, ông gia nhập Real Madrid. Đây là một cầu thủ tài năng, với lối chơi tốc độ, khéo léo và những pha ghi bàn đầy bất ngờ. Juanito là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất La Liga cuối những năm 70. Tuy nhiên, ông cũng rất hiếu chiến và nóng tính trên sân cỏ.

    7. Hugo Sanchez (11/6/1958) – Vua phá lưới, mùa giải 85/86 (22 bàn)
    Sanchez là một trong những cầu thủ dứt điểm tuyệt vời nhất trong lịch sử bóng đá thế giới. Sinh ra tại Mexico City, năm 1985 ông chính thức đầu quân về Real Madrid sau 5 năm chơi bóng cho Aletico Madrid. Những pha ghi bàn sấm sét bằng chân trái của Sanchez luôn khiến các thủ môn phải bó tay. Cùng ghi được 38 bàn thắng trong mùa giải 1989-1990 như Zarra, danh hiệu vua phá lưới Sanchez đã đi vào lịch sử bóng đá thế giới. Ông đã 4 lần đoạt danh hiệu cao quí này với Real và một lần với Atlético Madrid.

    8. Butragueno (22/7/1963), tiền đạo quyến rũ nhất, mùa giải 90/91 (19 bàn)
    Emilio Butragueno Santos sinh ra tại Madrid. Trước khi đầu quân cho Real, Butragueno từng chơi tại đội A của CLB thiếu niên Real, và CLB Castilla. Anh có một phong cách chơi bóng vô cùng lôi cuốn và độc đáo. Trong những năm đỉnh cao phong độ, không ai có thể theo kịp tốc độ đi bóng của anh. Ở mỗi trận đấu, anh luôn là cầu thủ gây nguy hiểm cho hàng phòng ngự đối phương bằng những pha lừa bóng ngoạn mục. Thời điểm đó, Butragueno là tiền đạo được hâm mộ nhất trong đội hình Real.

    9. Zamorano – ngọn lửa Chile, mùa giải 94/95 (27 bàn)
    Năm 1990, Zamorano chính thức kí HĐ với Sevilla và đến chơi bóng tại TBN, và sau 2 năm, anh đã quyết định về với Bernabeu. Sinh ra tại Cumuna Maipu, Chile, Zamorano là cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử bóng đá Chile. Chấn thương liên tục đã ảnh hưởng nhiều đến lối chơi và phong độ của anh trong nhiều mùa giải: nhiều lúc Zamorano chơi vô cùng ấn tượng, nhưng có những lúc lại khiến NHM thất vọng.

    ]10. Raul (27/6/1977 ) - bản năng ghi bàn, mùa giải 98/99 (23 bàn)

    Sinh tại Madrid, Raul khởi đầu sự nghiệp bóng đá tại đội trẻ của CLB Atletico Madrid. Bằng khả năng ghi bàn tuyệt vời, chỉ ít lâu sau anh đã gia nhập CLB Real Madrid. Trong một thời gian ngắn anh đã trở thành một trong những cầu thủ tên tuổi nhất thế giới. Không chỉ có khả năng ghi bàn bẩm sinh, Raul còn là một cầu thủ đa năng. Anh có thể tỏa sáng dù chơi ở bất cứ vị trí nào trên sân.

    11. Ronaldo (22/9/1976 ) – tiền đạo nguy hiểm nhất, mùa giải 03/04 (24 bàn)
    Một thời gian khá dài Ronaldo phải nghỉ thi đấu do bị chấn thương nghiêm trọng khi còn chơi cho Inter Milan. Năm 2002, tiền đạo 30 tuổi này kí hợp đồng với Real Madrid. Sau khi bình phục hoàn toàn, Ronaldo đã nhanh chóng lấy lại phong độ và chứng tỏ khả năng ghi bàn thần sầu của mình. Ronaldo tên đầy đủ là Ronaldo Luiz Nazario da Lima, sinh tại Bento Ribeiro, Brazil. Mỗi khi có bóng, anh luôn là mối đe dọa đối với khung thành đội bạn.

    12. Van Nistelrooy (1/7/1976) – Người Hà Lan bay, mùa giải 06/07 (25 bàn)
    Ruud Van Nistelrooy là cây ghi bàn lợi hại không chỉ của ĐTQG Hà Lan mà các CLB có tiếng đều muốn có được cầu thủ này. Tiền đạo 30 tuổi này chính thức khoác áo Real mùa bóng 06/07, sau một thời gian dài tỏa sáng tại MU.
    Ngay mùa giải đầu tiên của mình tại La Liga anh đã chứng tỏ tài năng của mình bằng những serie bàn thắng và trở thành một trụ cột không thể thiếu của clb Hoàng Gia. Mùa giải 07/08 đã qua quá nửa chặng đường và Nistelrooy lại là cái tên sáng giá cho danh hiệu Pichichi cao quí!




    [IMG]
    Huyền Thoại Real Marid

    Mũi tên vàng” Alfredo Di Stéfano

    Alfredo Di Stéfano sinh ngày 04-07-1926 tại Barrancas, Buenos Aires, Argentina, là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử bóng đá. Đối với những cổ động viên của đội bóng Hoàng gia Tây Ban Nha, Real Madrid, không cầu thủ nào có thể so sánh được với Di Stéfano.
    [IMG]
    Cựu cầu thủ này từng gắn bó lâu năm với câu lạc bộ Real Madrid, và trong thời gian thi đấu cùng ngôi sao Ferenc Puskas, anh luôn đóng vai trò là cầu thủ trụ cột quan trọng nhất giúp đội bóng Hoàng gia chiếm giữ Cup vô địch Châu Âu trong suốt thập niên 50, trong giai đoạn đó, câu lạc bộ này đã từng đoạt danh hiệu vô địch trong 5 mùa giải liên tiếp từ 1956. Sự nghiệp thi đấu quốc tế của Di Stéfano cũng từng gắn với các đội tuyển quốc gia Argentina, Colombia, và Tây Ban Nha.

    Di Stéfano là một tiền đạo đây sức mạnh với một thể lực ổn định, linh hoạt trong chiến thuật, và trên hết, những phẩm chất này đã giúp anh trở thành nhạc trưởng của giàn nhạc Real với thứ bóng đá tấn công đẹp mắt.

    Sinh ra trong một gia đình Italy di dân tới Argentina, sự nghiệp cầu thủ của Di Stéfano khởi đầu tại câu lạc bộ River Plate, Argentina năm 1943. Ông đã từng 6 lần vô địch quốc gia trong thời gian 12 năm đầu của sự nghiệp cầu thủ tại Argentina và Colombia (chơi cho câu lạc bộ Millonarios tại Bogota) trước khi chuyển sang thi đấu cho đội bóng Real năm 1953. Đối thủ của Real - đội bóng Barcelona – khi đó tưởng chừng như đã có được ngôi sao này, nhưng chính phủ Tây Ban Nha lúc đó lại đưa ra một giải pháp “Salomonic” và Barcelona đã không chấp nhận giải pháp trên, điều đó giúp Real Madrid có được ngôi sao này.
    Với 49 bàn thắng trong 58 trận đấu, Di Stéfano là ngôi sao ghi bàn hàng đầu của châu Âu trong một thập niên, kỷ lục của ông chỉ bị tiền đạo Raul của Real vượt qua hồi năm 2005. Có thể, thành tích nổi bật nhất của ông trong thời gian thi đấu cho câu lạc bộ chính là trận thắng 7-3 trước đội bóng Eintracht Frankfurt trong trận chung kết Cup vô địch Châu Âu tại Hampden Park hồi năm 1960, một trận đấu được nhiều người nhận xét là một cuộc trình diễn đẹp mắt nhắt của bóng đá cấp câu lạc bộ Châu Âu. Ông được bầu chọn là “Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu” những năm 1957 và 1959.

    Di Stéfano đã từng giành được vô số danh hiệu vô địch quốc gia, các Cup vô địch khác cùng câu lạc bộ Real, nhưng lại chưa từng chinh phục được vinh quang tại các vòng chung kết World Cup. Ông chuyển sang thi đấu cho câu lạc bộ Espanyol năm 1964 và ông đã thi đấu ở đó cho tới khi quyết định “gác giầy” ở tuổi 40.

    Sau khi kết thúc sự nghiệp cầu thủ, Di Stéfano chuyển sang làm huấn luyện viên. Ở vai trò huấn luyện viên, ông đã từng dẫn dắt các câu lạc bộ của Argentina như Boca Juniors và River Plate đoạt danh hiệu vô địch quốc gia, và ông cũng giành được thành công với đội bóng Valencia với danh hiệu vô địch các câu lạc bộ Tây Ban Nha và Cup quốc gia, và ông đã cùng đội bóng đăng quang vô địch Cup Châu âu hồi năm 1980. Ông cũng từng làm huấn luyện viên câu lạc bộ Real trong khoảng thời gian giữa những năm 1982 và 1984. Hiện tại, ông đang là chủ tịch danh dự của câu lạc bộ Madrid.

    Ngày 24.8.1963, tin tức phát đi từ Caracas, thủ đô của Venezuela, cho biết đã diễn ra một vụ bắt cóc. Gần như ngay lập tức, những thông tin liên quan đến vụ bắt cóc này được đăng tải trên hầu khắp các trang báo lớn trên thế giới và lan ra khắp mọi ngõ ngách địa cầu với tốc độ nhanh như điện giật! Đó quả là một điều đáng ngạc nhiên bởi vì vào đầu những năm 60 ấy, những vụ bắt cóc ở Venezuela xảy ra như cơm bữa, đến mức người ta đã nhàm với những tin tức như vậy. Vậy mà chỉ một vụ bắt cóc đã gây nên một chấn động chưa từng có lúc bấy giờ...
    [IMG]
    Đơn giản bởi vì nạn nhân của vụ bắt cóc này là một người gốc Argentina có tên là Alfredo Di Stefano!
    Những kẻ tổ chức vụ bắt cóc đã rất biết chọn mục tiêu của mình. Vào thời điểm đó, Di Stefano, cầu thủ của câu lạc bộ bóng đá Tây Ban Nha Real Madrid, đang là một trong những người nổi tiếng nhất thế giới. Những chiến tích phi thường trên sân cỏ của cầu thủ này khiến cho anh có được một tiếng tăm vang dội trên toàn cầu và không phải là không có lý khi đi kèm với sự nổi tiếng luôn là sự nguy hiểm.
    Chỉ một thời gian ngắn sau đó, người ta đã biết được thủ phạm gây nên vụ bắt cóc chấn động này. Mặt trận giải phóng dân tộc (FALN), một tổ chức vũ trang nổi dậy chống chính quyền của Tổng thống Venezuela Romulo Betancourt, đã lên tiếng nhận trách nhiệm tổ chức vụ bắt cóc. Ở Venezuela, người ta không lạ gì tiếng tăm của FALN, tổ chức đã có những hành động bạo lực quyết liệt chống chính phủ trong thời kỳ đầu những năm 60 mà đỉnh điểm là năm 1962-1963. Chính tổ chức này đã thực hiện các vụ phá hoại đường ống dẫn dầu ở Venezuela, đốt phá cửa hàng của Công ty Sears Roebuck và táo bạo nhất là họ còn đánh bom cả sứ quán Mỹ ngay tại thủ đô Caracas... Những hành động đó khiến cho người ta có đủ cơ sở để lo ngại cho tính mạng của người cầu thủ bóng đá nổi tiếng.
    Nhưng "nhân vật" chính của vụ bắt cóc, Di Stefano, lại không cảm thấy lo ngại. Cùng với đội Real Madrid tới Caracas để tham gia một giải đấu tập huấn chuẩn bị cho mùa bóng mới, sau khi nhận phòng ở khách sạn, Di Stefano ngủ thiếp đi vì quá mệt sau chuyến bay dài dằng dặc. Vào lúc gần sáng, anh bị dựng dậy bởi những tiếng gõ cửa gấp gáp và khi còn chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra thì đã thấy những người lạ mặt ập vào trong phòng. Một người trong số đó, sau này Di Stefano biết tên anh ta là Paulo Del Rio, còn gí súng vào đầu Di Stefano bắt anh phải im lặng, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng! Mọi chuyện sau đó diễn ra y như trong một cuốn phim trinh thám. Di Stefano bị bịt mắt, đẩy lên một chiếc ô tô, đi vòng vèo rồi sau đó, khi được tháo băng bịt mắt, thấy mình đang ở trong một ngôi nhà xa lạ. Những người bắt cóc anh đối xử khá tử tế. Họ cho biết tính mạng của anh hoàn toàn không bị đe dọa, bởi mục đích của cuộc bắt cóc này hoàn toàn khác so với những vụ bắt cóc vẫn xảy ra trước đó ở Venezuela. Thậm chí, trong câu chuyện phiếm giữa Di Stefano với những kẻ bắt cóc anh, chủ đề thường xuyên được đề cập tới là bóng đá. Những người canh gác tỏ ra khá am hiểu về bóng đá và về bản thân đối tượng mà họ đang canh giữ. "Hội chứng Stockholm" dùng để chỉ hiện tượng người bị bắt cóc lại có cảm tình với những người bắt cóc mình tỏ ra đúng trong trường hợp này. Di Stefano thấy có thiện cảm với những người bắt cóc anh, và anh cũng biết họ đã cam kết với thế giới rằng sẽ chỉ giam giữ Di Stefano đúng 48 giờ đồng hồ, sau đó sẽ thả anh ra, an toàn, nguyên vẹn.

    Vậy mục đích của những người tổ chức vụ bắt cóc Di Stefano là gì? Một thỏa hiệp với chính phủ? Một yêu cầu tiền chuộc lên đến 6 chữ số? Hay một hành động nhằm thể hiện thái độ chống chính quyền Franco ở Tây Ban Nha?

    Tất cả đều không phải. Mục đích của vụ bắt cóc sau đó đã được thủ lĩnh của FALN, Canales, tuyên bố rõ ràng: "Bằng việc bắt cóc Di Stefano, chúng tôi muốn thế giới chú ý đến tình trạng chính trị ở Venezuela".

    Nói cách khác, Di Stefano quá nổi tiếng đến nỗi Canales và các chiến hữu của ông cho rằng việc bắt cóc anh sẽ thu hút được chú ý của toàn thế giới đối với tình hình chính trị ở Venezuela cũng như cuộc đấu tranh vũ trang của họ chống chính quyền của Tổng thống Romulo Betancourt.

    Và có vẻ như họ đã tính toán đúng. Sau 48 giờ đồng hồ, khi đã đạt được mục đích thu hút sự chú ý của thế giới, những người bắt cóc đã thả Di Stefano tại một khu phố ở trung tâm Caracas, rồi anh đi taxi về sứ quán Tây Ban Nha. Hai ngày sau, Di Stefano đã có mặt trong trận đấu giữa Real Madrid với Câu lạc bộ Sao Paulo của Brazil...

    Hiện tại, Di Stéfano vẫn đang là cây ghi bàn xuất sắc thứ ba trong lịch sử các đội bóng hạng nhất của Tây Ban Nha, với 228 bàn thắng ghi được trong 329 trận đấu, xếp sau Hugo Sánchez (234 bàn) và Telmo Zarra (251 bàn). Di Stéfano cũng là tiền đạo ghi nhiều bàn thắng nhất ở mọi thời đại trong lịch sử của Real Madrid ở giải đấu vô địch quốc gia, với 216 bàn thắng trong 282 trận đấu của giải vô địch quốc gia từ năm 1953 đến 1964.

    Di Stéfano được “Vua bóng đá” Pelé bầu chọn là 1 trong 125 Top những cầu thủ bóng đá vĩ đại nhất hiện còn sống hồi tháng 3 năm 2004, và ông được rất nhiều người trong làng bóng đá thế giới bầu chọn là một trong số 6 tiền đạo tài năng nhất trong lịch sử bóng đá, cùng với những tên tuổi khác như Diego Maradona, George Best, Johan Cruijff và Pelé.Trong thời gian làm cầu thủ của mình, Di Stefano thậm chí còn được một số người đánh giá cao hơn cả “vua bóng đá” Pelé.

    Thành tích thi đấu

    Vô địch quốc gia Argentina: 2 lần (những năm 1945, 1947)
    Vô địch quốc gia Colombia: 4 lần (những năm 1949, 1951, 1952, 1953)
    Vô địch Tây Ban Nha: 8 lần (những nam 1954, 1955, 1957, 1958, 1961, 1962, 1963, 1964)
    Vô địch Cup Tây Ban Nha: 1 lần (1962)
    Vô địch Cup Latin: 2 lần (những năm 1955, 1957)
    Cup vô địch Châu Âu: 5 lần (những năm 1956, 1957, 1958, 1959, 1960)
    Vô địch Cup Liên lục đia: 1 lần (1960)
    Vô địch Copa América: 1 lần (1947)
    Các giải thưởng
    Vua phá lưới giải vô địch quốc gia Argentina: 1947
    Vua phá lưới giải vô địch quốc gia Colombia: 1951, 1952
    Vua phá lưới giải vô địch quốc gia Tây Ban Nha: 5 lần (1954, 1956, 1957, 1958, 1959)
    Quả bóng vàng Châu Âu: 2 lần (1957, 1959)
    Thành tích thi đấu quốc tế
    Đội tuyển Argentina: 7 trận, 7 bàn thắng
    Đội tuyển Colombia: 4 trận
    Đội tuyển Tây Ban Nha: 31 trận, 23 bàn thắng


    Ferenc Puskás - Siêu tiền đạo Canoncito Pum
    [IMG]
    Ferenc Puskas một trong những tiền đạo huyền thoại của Real Madrid

    Ferenc Puskás sinh tại thành phố Budapest, thủ đô Hungary. Năm 1939, ông gia nhập câu lạc bộ bóng đá Kispest Honvéd. Sau đó, ông tham gia đội tuyển bóng đá quốc gia Hungary và đạt rất nhiều thành công. Đội tuyển Hungary thời đó được coi là Đội tuyển Vàng của bóng đá Hungary với huy chương vàng Thế vận hội Mùa hè 1952, huy chương bạc giải vô địch bóng đá thế giới 1954 và là đội bóng đầu tiên đánh bại đội tuyển bóng đá quốc gia Anh ngay tại sân vận động Wembley với tỷ số 6–3.


    Năm 1956, ông sang Tây Ban Nha chơi cho R.C.D. Espanyol, sau chuyển sang Real Madrid cho đến khi ông từ giã sự nghiệp cầu thủ vào năm 1967. Trong 11 năm thi đấu cho Real Madrid, ông đã ghi tổng cộng 512 bàn thắng trong 528 trận, 3 lần vô địch cúp C1 châu Âu... Đến năm 1961, Puskás nhập quốc tịch Tây Ban Nha và thi đấu cho đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha.

    Sau khi thôi thi đấu, ông trở thành huấn luyện viên của nhiều câu lạc bộ bóng đá trong đó có cả đội tuyển bóng đá quốc gia Hungary.

    Cú bùm của khẩu đại bác nhỏ

    Ngày 1/8/1958, Real Madrid bước vào đợt chuẩn bị mùa giải mới. Một người đàn ông 31 tuổi với cái bụng bia được giới thiệu với các CĐV. Carniglia sửng sốt: "Tôi đâu có yêu cầu mua anh ta". HLV Real Madrid nêu thắc mắc với Santiago Bernabeu: "Thưa ngài chủ tịch, tôi biết làm gì với cái anh chàng to béo kia!". Câu trả lời là: "Nhiệm vụ của anh là biến Puskas thành một chàng trai quyến rũ!". Ở Real Madrid, HLV luôn là thành phần "thấp cổ bé họng" nhất.

    Vẻ ngoài của Ferenc Puskas có thể không quyến rũ, nhưng tài năng bóng đá thì khỏi chê. Ở độ tuổi cùng cái bụng bia của mình, Puskas vẫn làm được những điều kỳ diệu (Santiago Bernabeu nói: "Cho nên anh ta mới xứng đáng chơi cho Real Madrid"). Trong 260 trận, Puskas (có thể xem là một tiền vệ) ghi 240 bàn. Puskas cũng tài năng như Di Stefano, nhưng còn hơn thế. Sự xuất hiện của thiên tài người Hungary san sẻ gánh nặng Real Madrid oằn lên đôi vai của Di Stefano.

    Nền tảng lối chơi của Puskas dựa vào kỹ thuật và sự thông minh, nên sẽ không bị ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố tuổi tác và thể lực. Vũ khí mạnh của ông là chân trái có thể tung ra những cú sút mà Roberto Carlos cũng không thể bì kịp. Sức mạnh cú sút chân trái của Puskas được cây bút nổi tiếng người Anh Brian Glanville mô tả như sau: "Khi bóng đến chân, Puskas chỉ cần chạm nhẹ để chỉnh hướng. Sau đó, một cú đá nhẹ nhàng bắn quả bóng bay với tốc độ của quả đạn đại bác". Puskas có biệt danh là Canoncito Pum (cú bùm của khẩu đại bác nhỏ).

    Giống Di Stefano đến kỳ lạ, Puskas cũng là một cầu thủ toàn diện. Jorge Valdano từng nhận xét: "Puskas có thể thủ vai một hậu vệ hoàn hảo, không phải vì ông hay chơi ở vị trí đó. Trí thông minh giúp Puskas phán đoán tình huống trước khi tung ra một cú xoạc bóng chuẩn xác chẳng kém bất kỳ hậu vệ cừ khôi nào". Puskas - Di Stefano, đó có lẽ là sự kết hợp tuyệt diệu nhất trong lịch sử bóng đá thế giới. Puskas di chuyển rộng, lắm lúc đảm nhận cả vai trò tiền vệ phòng ngự. Trong lối chơi của Puskas luôn luôn phảng phất lối chơi của Di Stefano và ngược lại. Họ hoán chuyển vị trí với nhau thật hoàn hảo, sức tấn công của Real Madrid được nhân lên gấp bội.


    Với Puskas, Real Madrid có đội hình hoàn hảo nhất trong lịch sử CLB này. Puskas - Gento - Di Stefano, bộ ba tấn công trứ danh này viết tiếp trang sử hào hùng cho Real Madrid tại cúp C1.

    Huyền thoại của đội tuyển quốc gia Hungary

    Puskas chính là một trong những cái tên nổi bật nhất trong "đội hình siêu kinh điển" mà bóng đá Hungary sở hữu ở những năm đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước. Chính đội hình đó đã làm cả thế giới bóng đá "điên đảo" khi họ thể hiện sức mạnh ở kỳ World Cup năm 1954. Họ đã gieo "nỗi kinh hoàng" cho tất cả các đối thủ, trước khi dừng chân trong trận chung kết với ĐT Tây Đức - đối thủ mà họ đã từng đánh bại với tỷ số 8-3 ở vòng đấu bảng.
    [IMG]
    Puskas với chiếc chân trái siêu phàm

    Sinh ngày 2 tháng 4 năm 1927, Puskas đã sớm thể hiện tài năng bóng đá khi còn rất trẻ, lúc đó ông chơi cho đội bóng Kispest - một đội bóng của thủ đô Budapest. Trong khoảng thời gian thi đấu cho đội bóng này, ông đã ghi tổng cộng 358 bàn thắng trong tổng số 349 lần được ra sân. Một con số mà mỗi khi nhắc lại, những thành viên của Kispest khi đó vẫn còn phải trầm trồ. Puskas chính là "linh hồn" của đội bóng này trong vòng 5 năm với tư cách là đội trưởng. Năm 1949, Kispest đổi tên là Honved và thuộc biên chế của quân đội...
    [IMG]
    Đội hình vàng của Hungary trong những năm 50

    Những màn trình diễn ấn tượng đó đã giúp Puskas lọt vào mắt xanh của những nhà tuyển trạch của ĐTQG. Ông lần đầu tiên xuất hiện trong màu áo của ĐT Hungary khi mới 18 tuổi. Đó là trận đấu với ĐT Áo, trong thời điểm chiến tranh thế giới thứ 2 vừa chấm dứt. Trong chiến thắng đậm đà 5-2 của Hungary khi đó, ông đã có một lần chọc thủng lưới đối phương, góp công vào chiến thắng của đội nhà.


    Mặc dù không có được những yếu tố cần thiết mà một tiền đạo điển hình cần có, như chiều cao, khả năng tranh bóng trên không,... Nhưng bù lại, Puskas lại sở hữu một chiếc chân trái vô cùng khéo léo, và những thống kê về ông đã khiến nhiều người không khỏi... giật mình. Lấy một ví dụ điển hình, đó là ông đã ghi tổng cộng 83 bàn thắng trong số 84 lần khoác áo ĐTQG Hungary. Một kỷ lục mà ông đã giữ suốt thế kỷ trước. Nó chỉ bị phá vỡ bởi tiền đạo người Iran - Ali Daei vào năm 2003 (cầu thủ này đã ghi được 109 bàn thắng cho ĐTQG, nhưng cựu cầu thủ của Bayern Munich phải mất đến 149 trận đấu)

    Người làm Wembley "câm lặng"

    Vào những năm 50 của thế kỷ trước, Hungary được biết đến như một đội bóng "bất khả chiến bại". Khi đó, Puskas với tư cách là đội trưởng đã cùng các đồng đội đem về chiếc huy chương vàng thế vẫn hội Olympic diễn ra ở Helsinki, Phần Lan vào năm 1952. Sau đó, dưới sự dẫn dắt của HLV Gusztav Sebes, các cầu thủ Hungary hành quân đến Thụy Sỹ để tham dự cúp thế giới với thành tích bất bại trong vòng 4 năm. Trước khi đến Thụy Sỹ năm 1954, đoàn quân của Gusztav Sebes đã có một trận đấu "kinh thiên động địa", khi hạ gục các cầu thủ Anh vốn rất mạnh khi đó với tỷ số 6-3 ngay trên "thánh địa" Wembley vào ngày 25 tháng 11 năm 1953. Với hai bàn thắng ghi được vào lưới đối phương, Puskas đã được là một phần trong trận đấu được coi là một trong những cuộc đối đầu "kinh điển" nhất trong lịch sử bóng đá thế giới.
    Puskas và các đồng đội đã khiến 100 nghìn CĐV trên sân Wembley khi đó phải trầm trồ thán phục với màn trình diễn ấn tượng nhất mà họ từng được chiêm ngưỡng. ĐT Hungary với chiến thuật được xây dựng xung quanh "hạt nhân Puskas" khi đó đã chơi một thứ bóng đá khiến người Anh nể phục. Trong khi đội bóng của quê hương "túc cầu giáo" vẫn áp dụng đội hình cổ điển WM (đội hình được HLV của Arsenal, Herbert Chapman nghĩ ra vào những năm 20 của thế kỷ trước), thì Puskas và các đồng đội đã áp dụng thành công sơ đồ chiến thuật 4-2-4 mà HLV Gusztav Sebes đưa ra. Với sự xuất hiện của Puskas, Hungary đã đánh bại "huyền thoại WM" của người Anh. Lối đá đã khiến bao nhiêu con tim hâm mộ bóng đá trên khắp thế giới vô cùng ngưỡng mộ...

    Lần sinh nhật thứ 70 của Puskas được xem là ngày quốc lễ khi sân vận động quốc gia Nepstadion tại Budapest được chính thức đổi tên thành sân Ferenc Puskas để tôn vinh con người huyền thoại này.Ngày 17 tháng 11 năm 2006, ông mất do bệnh viêm phổi tại Budapest, thọ 79 tuổi.

    Sự nghiệp thi đấu:
    CLB
    - 1939-1956: Kispest Honved
    -1956-1958 : R.C.D. Espanyol
    - 1958-1967: Real Madrid
    ĐTQG:
    - 1949-1956: Đội tuyển quốc gia Hungary
    - 1961-1962: đội tuyển Tây Ban Nha
    DANH HIỆU
    - Huy chương vàng Olympic Helsinki 1952, 5 chức VĐ Hungary (Honved), 5 chức vô địch Primera Liga (Real Madrid), 1 Cúp C1 (1950), 1 Cúp Liên lục địa, 1 Cúp Nhà vua, 4 danh hiệu Pinichi (Vua phá lưới Primera Liga), 1 chức VĐ Australia (South Melbourne Hellas)
    - Puskas ghi tổng cộng 191 bàn thắng trong 219 trận cho Real Madrid.
    - Ghi 84 bàn trong 85 lần chơi cho đội tuyển Hungary[/HIDE]


    Fernando Carlo Redondo-chúng tôi tự hào vì có anh!

    [HIDE][IMG]
    Có lẽ giống như Zidane, một cầu thủ như Redondo sẽ không còn bao giờ xuất hiện thêm một lần nữa.

    Khác hẳn với các bạn bè đồng trang lứa tại Nam Mỹ thường xuất thân từ tầng lớp lao động và trưởng thành bằng bóng đá hè phố với những quả bóng vải thì Redondo lại xuất thân từ tầng lớp thượng lưu của Argentina. Có lẽ chính vì thế mà cách chơi bóng của anh mạng đậm chất quý tộc và đầy lãng mạn. Chỉ có Redondo mới có thể chơi bóng hoàn toàn dựa trên kỹ thuật ở một vị trí đòi hỏi sức mạnh cơ bắp trong những pha tranh chấp bóng : tiền vệ trụ. Cũng có thể vì xuất thân từ giai cấp quyền quý nên trong anh dòng máu của một hiệp sỹ luôn luôn ngự trị và vì đó, anh luôn là một "Trái tim dũng cảm" trong mắt các cổ động viên. Cho dù đó là Boca hay Madrid, CD Tenerife là Milan hay Argentina, với những cổ động viên thì Redondo luôn hiện thân cho một thứ bóng đá đẹp đầy nghệ thuật, một thủ lĩnh bẩm sinh.

    Redondo tên đầy đủ là Fernando Carlos Redondo Neri, sinh ngày 6 tháng 7 năm 1969 tại Buenos Aires, Argentina. Và tất nhiên, với khả năng bẩm sinh của mình anh nhanh chóng trưởng thành và khẳng định mình tại lò Boca. Khi Redondo 18 tuổi, anh ra mắt lần đầu tiên trong màu áo Boca và chỉ sau 6 trận đấu anh đã khẳng định vai trò đội trưởng tại CLB số 1 Argentina.

    Năm 21 tuổi, giải vô địch Argentina đã không còn đủ chỗ cho tài năng của Redondo vùng vẫy, anh bắt đầu bước chân sang Châu Âu với bến đỗ đầu tiên là CLB CD Tenerife. 4 năm tại đây đủ để Redondo làm quen với bóng đá Châu Âu và bắt đầu khẳng định ngôi vị của mình. Năm 1994, anh cùng các đồng đội hành quân đến World Cup tại Mỹ để chinh phục Cup vàng. Và do sự việc đầy tai tiếng của Argentina liên quan đến Cậu Bé Vàng Maradona nên đội tuyển Argentina đã phải dừng bước. Năm đó, Redondo đã chơi một trong những giải đấu xuất sắc nhất của đời mình nhưng sự xuất sắc đó không đủ kéo cả đội hình Argentina đang hoang mang sau cú sốc mang tên doping. Một mình Redondo không thể cản nổi điệu Tango đang loạn nhịp, đồng thời phía bên kia chiến tuyến các cầu thủ Rumani dưới sự dẫn dắt của một Maradona khác, Maradona vùng Cacpact : G.Gagi - đã chơi như lên đồng để rồi tiễn đưa điệu Tango về nước. Năm 1998, do bất đồng quan điểm với HLV trưởng do không chịu cắt đi mái tóc dài của mình nên sự nghiệp tại đội tuyển quốc gia của Redondo gần như chấm hết tại đây.

    Gạt bỏ nỗi thất vọng World Cup, anh tới đầu quân cho Real Mardrid và trải qua những năm tháng đẹp nhất đời mình ở Bernabeu. Anh nhanh chóng quyến rũ những CĐV nồng nhiệt và phóng khoáng của thủ đô bằng mái tóc lãng tử bồng bềnh và lối đá chắc chắn nhưng vô cùng hoa mĩ. Trong những năm 1995-2000, anh là ông chủ khu trung tuyến, là kiến trúc sư tạo nên cho Real 1 lối đá đẹp đến nồng say: liên tục đan bóng ngắn với tốc độ cao tựa như "thêu hoa dệt gấm". Chơi ở vị trí thu hồi bóng nhưng chưa bao giờ anh dùng tới sức mạnh cơ bắp mà thay vào đó là cái đầu. Chơi ở vị trí tiền vệ trung tâm, Redondo thường xuyên đem lại cho khán giả sự hứng thú bằng lối chơi rất thông minh, tinh tế, đầy đam mê, ngẫu hứng nhưng cũng rất hiệu quả. Khi Redondo còn tung hoành trên sân cỏ, người ta luôn lấy anh làm hình mẫu mỗi khi nói về vị trí tiền vệ trung tâm.

    Có thể nói so với đặc trưng của bóng đá , anh là 1 ngoại lệ. Trong anh, bóng đá là cái đẹp, là tính cách hiệp sĩ như dòng máu chảy trong con người anh.
    Tới Real với sứ mạng chấm dứt sự thống trị của Barca dưới bàn tay lèo lái Johan Cruyff, anh đã làm được.

    Năm 1995, Real chấm dứt cơn khát danh hiệu bằng chức VĐ Liga. Năm 1997 là 1 chức VĐ nữa. Rồi thành công châu Âu cũng tới, đỉnh cao là chiến thắng năm 1998 trước Juve của Piero và Zidane. Tại trận đấu đó anh đã làm lu mờ Zizou đang ở đỉnh cao phong độ.

    Không 1 CĐV nào của Real quên được giây phút anh rạng rỡ giơ cao chiếc cúp CL sau 32 năm dài đau khổ chờ đợi. Nhưng năm 2000 thậm chí anh còn tạo được dấu ấn sâu đậm hơn. Với cương vị đội trưởng, anh đã đưa con thuyền Real tới bến bờ chiến thắng. Còn nhớ trận lượt về vòng tứ kết ( trên sân Old Trafford ), anh đã trình diễn 1 phong độ rực sáng: làm Roy Kean "biến mất", liên tục tại ra những cơ hội cho đồng đội và đặc biệt với pha "làm xiếc" qua mặt Henning Berg trước khi tỉa bóng tinh tế cho Raul kết liễu đội chủ nhà, anh đã thành nỗi đau không bao giờ quên trong các CĐV của MU. Rồi trận chung kết, anh đã tạo ra 1 bức tường trước khung thành Casillas, góp phần quan trọng vào chiến thắng 3-0 của đội nhà. Với anh, Real đã hồi sinh sau nhiều năm im tiếng. Với các Madridistas, anh là người xuất sắc nhất. Emiliano Butragueno, 1 huyền thoại của Real, đã phát biểu rằng: "Redondo là 1 trong những tiền vệ xuất sắc nhất trong 20 năm qua. Anh là người chiến thắng". Còn cựu HLV Vicente Del Bosque thì đơn giản "Anh ấy là ông chủ của đội bóng".

    Năm 2000, anh rời Real sang AC nhưng những chấn thương đã hành hạ anh cho tới khi chấm dứt sự nghiệp. Trong thời gian chấn thương, anh từ chối nhận khoản lương 4,9 triệu USD vì không có đóng gì cho CLB- 1 hành động thể hiện rõ chất hiệp sĩ của anh.
    Nghĩa cử của Redondo khiến phó Chủ tich CLB AC Milan, Adriano Galliani phải thốt lên đầy thán phục: “15 năm trong nghề nhưng chưa bao giờ tôi chứng kiến một chuyện đáng ngạc nhiên đến như vậy”

    Với Redondo những khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong sự nghiệp đó là những kỉ niệm với Real Madrid: “Ngày 12/3/03, lần đầu tiên sau khi chuyển sang Milan tôi quay trở lại mái nhà Bernabeu, nơi gắn với những năm tháng tuyệt vời nhất trong sự nghiệp. Khi tôi xuất hiện trên sân cùng 21 cầu thủ khác, hơn 70 ngàn khán giả của Real Madrid đã đứng cả dậy, vỗ tay và gọi tên tôi. Thật không thể quên được cảm giác lúc đó, chân tôi như muốn khuỵ xuống, đầu ong ong, lồng ngực như sắp nghẹn thở. Tôi khóc mà không biết mình khóc, chỉ đến khi Raul tới bắt tay, tôi mới nhận ra điều đó. Khi tôi được thay ra sân ở phút 78, các khán đài Bernabeu lại rộ lên những tràng pháo tay và những tiếng hô: Redondo, Redondo… Một lần nữa, tôi lại không ngăn được nước mắt, tôi khóc vì quá hạnh phúc”!.
    Đâu phải chỉ mình anh khóc. Vô tình quá ko khi anh ko nhận thấy nước mắt đã lăn trên gương mặt Raul ngày hôm ấy. Vô tình quá chăng khi anh chỉ nghe tiếng hoan hô mà ko nhận ra trong đó đầy vể nghẹn ngào...!!!

    Với các cổ động viên của Real, Redondo mãi mãi sẽ là một niềm tự hào với biệt danh El Principe (Hoàng Tử). Và bóng đá thế giới thì anh được gọi là El Flaco (Gã Mảnh Mai) bởi lối chơi tinh tế của mình, ngoài ra anh còn được các đối thủ gọi là The White Machine bởi sự chắc chắn và chính xác đến kinh ngạc nhưng luôn mềm mại và bay bổng.
    Hãy nghe các đối thủ nói về anh sau mỗi trận đấu.

    Zidane : " Fernando là một cầu thủ kì lạ. Khi đối đầu với anh, tôi thấy mình đang được chơi bóng thực sự"

    Roy Keane : "Mardrid sẽ là đội vô địch bởi vì đơn giản, họ có El Flaco"
    G.Medietta : "Không thể chiến thắng Mardrid khi nào họ vẫn còn El Flaco ở trung tâm"

    HLV Alex Ferguson sau khi chứng kiến màn trình diễn siêu đẳng của Redondo, nổi bật là pha lừa bóng bằng gót chân qua trung vệ H.Berg, đặt bóng cho Raul ghi bàn, trong trận tứ kết lượt về Champions League 1999/2000- Real thắng 3-2 ngay tại Old Trafford- đã thốt lên: “Redondo là một thủ lĩnh thực sự, đôi chân anh ta như có nam châm”.

    ... và còn rất nhiều nhiều những lời ca tụng khác dành cho Gã Mảnh Mai. Anh đã trở thành thần tượng của rất nhiều đồng đội tại Real, họ đã bắt chước cách anh chơi bóng, học theo kiểu tóc hay phong thái của anh trên sân cỏ cũng như ngoài đời, họ mơ ước sẽ trở thành một Redondo mới trong trái tim cuồng nhiệt của các Madridistas. Sau này, bất cứ cầu thủ nào chơi ở vị trí tiền vệ trung tâm của Real đều bị mang ra so sánh với Redondo như một sự kì vọng của các cổ động viên Real. Nhưng có lẽ, đó sẽ mãi chỉ là ước mơ ...

    Tiền vệ người Argentina, Fernando Redondo quyết định treo giày, 6 tháng sau khi rời CLB AC Milan vì chấn thương dài ngày.[/HIDE]

    Francisco Cento - Cuộc đời màu trắng !

    [HIDE]Ngày sinh: 21/10/1933 tại Guarnizo
    Quốc tịch: Tây Ban Nha
    Vị trí: Tiền đạo cánh trái
    Số lần tham gia đội tuyển quốc gia: 44 lần được tuyển.Ghi được 5 bàn thắng. Vô địch Châu Âu: 1964

    CLB: Real Madrid (1953 - 1971), vô địch Tây Ban Nha năm 1953 - 1954 - 1955 - 1957 - 1958 - 1961 - 1962 - 1963 - 1964 - 1965 - 1967 - 1968 và 1969, đoạt cúp quốc gia năm 1962 và 1970, đoạt cúp C1 năm 1956 - 1957 - 1958 - 1959 và 1960, chung kết năm 1962 và 1964, chung kết cúp C2 năm 1971. Tống số trận cho Real Madrid 428,ghi được 126 bàn thắng .

    Không ai xứng đáng hơn Francisco Gento khi cuộc đời của ông đã thâu tóm được tất cả những điều làm nên sự vĩ đại, và đôi khi cả những điểm yếu ớt đáng ngạc nhiên của bóng đá Tây Ban Nha trong thời kỳ hiện đại. Không ai xứng đáng hơn Francisco Gento để trở thành biểu tượng cho sự thống trị không thể tin được của Real Madrid, trên nền bóng đá trong nước và trên cả bình diện Châu Âu trong một thập kỹ, trong khi đó đội tuyển quốc gia lại tỏ ra không có khả năng để vượt qua sự tranh chấp quyền lợi đã ăn sâu vào bóng đá. Không ai hơn được Gento để trở thành biểu tượng cho những phẩm chất linh hoạt, ngẫu hứng tự nhiên hay hành trang kỹ thuật mà qua mọi thời gian đã biến thành sức mạnh của các cầu thủ Tây Ban Nha. Cuối cùng không ai có thể sánh bằng ông trong việc chỉ ra rằng lòng nhiệt tình của quần chúng có thể bao bọc quanh bóng đá và những ngôi sao của bộ môn này trên khắp đất nước Tây Ban Nha.Ông làm đội trưởng đội tuyển Tây Ban Nha khi còn rất trẻ và được người Tây Ban Nha gọi trìu mến là Ye-yé, bởi vì sự ảnh hưởng của ban nhạc nổi tiếng The Beatles thời kỳ đó.


    Câu chuyện về Francisco Gento là câu chuyện về một đứa bé có nguồn ngốc rất kiêm tốn. Sinh năm 1933, ở buổi bình minh của một cuộc nội chiến, tại Guarnizo, gần Santander thuộc tỉnh Cantabria, phía bắc Tây Ban Nha, nằm bên bờ Đại Tây Dương. Cha là thợ thuyền với mong ươc tạo dựng sự nghiệp bóng đá cho 3 cậu con trai như là một cuộc phục thù với định mệnh sắp dè nặng lên họ. Là câu chuyện đến với CLB lớn Real ở Madrid, đội bóng hội tụ tất cả sự giàu có và tất cả những thành công, của một chàng trai tỉnh lẻ chưa đầy 20 tuổi, để tìm một chổ đứng dưới bóng mặt trời giữa những ngôi sao được tuyển dụng với số tiền lớn đến từ khắp nơi trên thế giới: Di Stefan, Puskas, Kopa, Didi, Rial...

    Sinh ra tại vùng ngoại thành của Santander nhưng Gento không chơi cho đội bóng quê hương Racing- vì trái tim ông hướng trọn về Estadio Chamartin. Ngay từ nhỏ Gento đã sớm tỏ rõ tài năng xuất chúng và được nhiều đội bóng lớn chú ý. Dĩ nhiên các tuyển trạch viên của RM- không phải là ngoại lệ. Được Don Santiago Bernabeu bật đèn xanh, HLV Enrique Fernandez đã tới ngay Santander cùng với 1 bản hợp đồng. Gento không ngần ngại kí ngay vào đó và năm 18 tuổi ông trở thành 1 Madridista.

    Gento luôn biết ơn Di Stefano vì những lời chỉ bảo của La Saeta Rubia. Sau này ông nói: "Tôi không hình dung được sự nghiệp của mình sẽ ra sao nếu không được anh ấy chỉ bảo. Lúc ấy tôi mới 18 tuổi và thực sự bị choáng ngợp giữa những tên tuổi lớn trong đội. Anh ấy đã chỉ bảo cho tôi tận tình, khích lệ tôi tự tin vào bản thân". Vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu , "con chim nhỏ" Gento (các CĐV gọi ông như vậy) nhanh chóng bay cao, trở thành trụ cột của đội.


    Gento thực sự là 1 phần không thể thay thế của đội hình huyền thoại. Cũng như- Roberto Carlos- sau này, ông là 1 left - winger nhưng chơi cao hơn. Tốc độ của ông nhanh đến nỗi "chúng tôi thường phải kìm bớt tốc độ của anh ấy lại vì không ai theo kịp" - lời Puskas. Trong trận đấu, Gento thường nhận bóng từ đồng đội, mở tốc độ khoan thẳng vào cánh trái đối phương và ghi bàn. Các đối thủ đều biết nhưng không thể ngăn chặn được con tàu siêu tốc TGV này. Ngoài đời, Gento là 1 chàng trai rất dễ thương, hay rụt rè nhưng khi vào sân ông hoàn toàn biến đổi: xông xáo, linh hoạt cùng trái bóng dính chặt trong chân. Theo ông, sở dĩ như thế là và ông có 1 trái tim khát khao chiến thắng "mỗi khi thi đấu ngọn lửa ấy lại bùng cháy trong tôi, thôi thúc tôi tiến về phía trước".


    Nói Gento ở giữa, nhưng chính xác hơn là ở bên cánh trái của các vì sao, khu vực mà ông đã kiến hàng trăm hậu vệ phải nhảy điệu Flamencos nặng nhọc nhất, họ hoảng hốt bởi tốc độ của Gento ("chạy hơn 100m dưới 10 giây khi mang giầy nhẹ", chủ tịch huyền thoại Santiago Bernabeu vừa cười vừa nói như vậy). Và bởi kỹ thuật cá nhân tuyệt vời của ông.Ông được gọi là Galerna del Cantábrico (Cơn bão Cantabria).


    Từ năm 1956 đến 1966, từ chiến thắng trước Reims cho đến Patizan Belgrade, ông có mặt trong tất cả các trận chung kết cup C1 châu Âu cùng Real. Tất cả gồm 8 trận chung kết, trong đó Real thắng 6. Một kỷ lục mà người nắm giữ duy nhất là Gento và ông không chịu buông ra một cách dễ dàng.
    Trong những trận chung kết đó, Gento tỏ ra vượt trội và giữ một vai trò quan trọng. Năm 1956 ở Paris, nơi Gento đã cống hiến bàn thắng thứ tư cho đội, giành chiến thắng trước Reims (4 - 3). Trận chung kết năm 1957 tại Madrid trước Fiorentina mà ông trở thành nhân vật quan trọng, khi đã ghi bàn thắng thứ hai cho Real (2 - 0). Và nhất là trận chung kết năm 1958, một tuyệt phẩm của Gento. Cái ngày 28/5 ấy ở Bruxelles, Real và AC Milan đang hòa nhau với tỷ số 2 - 2 khi thời gian thi đấu chính thức kết thúc. Thế là khởi đầu cho nữa giờ trình diễn của Gento. Cái đinh của chương trình: Lối dẫn bóng mà ông rất thích. Một pha tăng tốc đầu tiên như chớp. Rồi ông ngừng hẳn, chân đặt lên quả bóng và khi đối phương tưởng rằng cuối cùng mình đã "bắt" được Gento thì ông lại tăng tốc trở lại. Bên cánh trái, ông khiến hàng phòng ngự Milan phải hoảng hốt: Cú sút đầu tiên dội cột dọc, ghi bàn chiến thắng phúc 107.


    Con thêm nhiều chiến thắng trong hai trận chung kết khác những năm sau đó, trước Reims (2 - 0) và Eintracht Frankfurt (7 - 3), rồi đến hai trận cung kết thất bại, năm 1962 trước Benfica (3 - 5) và năm 1964 Inter Milan (1 - 3). Trước khi bước vào tuổi 33, Gento trở thành đội trưởng dũng cảm của một cuộc chinh phục đỉnh cao. Đừng đầu thế hệ mới, ông giương cao chiếc cúp châu Âu thứ 6 lịch sử CLB vào ngày 11/5/1966, sau khi giành được chiến thắng 2 - 1 trước Partizan Belgrade.


    Sự trung thành của ông với Real đã đưa tới một bảng kết toán khổng lồ: Thi đấu 761 trận và ghi 253 bàn. Sự nghiệp 18 năm của Gento dưới chiếc áo màu trắng nổi tiếng xen lẫn những trận đấu sáng chói nhất. Nếu dưới cái áo màu trắng ấy Gento gặt được tất cả vinh quang, thì ông lại không thể thực hiện được một điều tương tụ dưới màu áo đỏ của đội tuyển Tay Ban Nha, ngoại trừ một danh hiệu vô địch châu Âu năm 1964.




    Zinedine Zidane-huyền thoại của những huyền thoại

    [IMG]

    [PLAY]http://www.youtube.com/v/azLtew1L7ZA[/PLAY]

    Với nhiều người anh là cầu thủ vĩ đại nhất Châu Âu từ trước tới nay.

    Nhiều người nói Zidane là cầu thủ “bác học” vì càng hói anh càng đá hay. Dưới đây là những khoảnh khắc đẹp nhất về đôi chân tài hoa số một trong lịch sử bóng đá châu Âu - danh thủ đã giải nghệ sau mùa hè 2006.

    18 năm theo nghiệp cầu thủ, Zidane đã vươn tới đỉnh cao vinh quang, nhưng cũng phải nếm trải cả cay đắng. Sau khi giành chức vô địch thế giới, châu Âu, Champions League, Serie A, Liga và 3 lần là Cầu thủ hay nhất hành tinh, Zidane chia tay đấu trường quốc tế cùng tấm thẻ đỏ ở trận chung kết trước Italy.

    1. Bắt đầu đời cầu thủ chuyên nghiệp (ngày 20/5/1989)

    Sự nghiệp của anh bắt đầu năm lên 14 tuổi. Khi đó, Zidane chơi cho đội trẻ Septemes-Les-Vallons trước khi chuyển sang đầu quân cho đội A.S Foreste ở Castellane.

    Ngay từ thủa niên thiếu, Zidane đã sớm chứng tỏ năng khiếu bóng đá. Ông HLV Jean Fernandez của Cannes không thể kiên nhẫn hơn và “buộc phải” tung cậu học trò chưa đầy 17 tuổi vào sân, trong 12 phút cuối trận gặp Nantes tại Ligue I. Nhưng cầu thủ số một tương lai của bóng đá châu Âu đã phải chờ khá lâu để kiếm được bàn thắng đầu tiên cho mình. Cũng ở trận gặp Nantes hai năm sau, Zizou phá lưới đối thủ trước khi chạy ra sát đường biên nhảy một vũ điệu lạ mắt tặng cô bạn gái Veronique - vợ tương lai của anh.

    Chiến thắng không thể quên trước AC Milan (1996)

    Đó là một trong vài cú lội ngược dòng kinh điển nhất trong lịch sử bóng đá châu Âu hiện đại. Bordeaux chỉ được ví như chú bé tí hon bên cạnh gã khổng lồ AC Milan ở tứ kết Cup UEFA mùa giải 1995/1996. Nhận định đó phần nào đã đúng khi đội bóng Pháp dễ dàng bị phơi áo 0-2, trong trận lượt đi trên sân khách. Ngay cả những CĐV mơ mộng nhất của đất nước hình lục lăng cũng không dám nghĩ tới chuyện lật ngược thế cờ, trước các siêu sao cỡ George Weah, Roberto Baggio, hay Paolo Maldini.

    Thế nhưng, bóng đá lại thường làm bạn với những phép màu, và điều kỳ diệu thực sự đã xảy ra. Với thế trận tấn công trong trận lượt về được dẫn dắt bởi Zidane, Bordeaux lần lượt làm lưới Milan rung lên 3 lần (nhờ công Tholot và Dugarry). CLB xứ rượu vang sau đó tiến thẳng vào chung kết, trước khi bị Bayern đầy kinh nghiệm làm tan vỡ giấc mơ vô địch.

    2. Lần đầu tiên chơi cho đội tuyển Pháp (17/8/1994)

    Việc đứng ngoài World Cup tại Mỹ khiến tân HLV Aime Jacquet cần thực hiện một cuộc cách mạng ở đội tuyển Pháp, nhằm chuẩn bị cho Euro 1996. Ông cho gọi một loạt tân binh mới toe, trong đó có chàng tiền vệ 22 tuổi đầy tiềm năng lúc này đã chuyển sang đá cho Bordeaux. Và Jacquet đã không phải thất vọng về quyết định của mình, thậm chí còn phát hiện ra một “viên kim cương thô chưa được mài bóng”. Khi Czech đang thắng với tỷ số 2-0 thì Zidane xuất hiện từ băng ghế dự bị và làm luôn một cú đúp, san bằng tỷ số trận đấu. Cho tới nay, đấy vẫn là kỷ niệm tuyệt vời mà “chàng hói” nhớ mãi.

    Ngày 17/8 năm 1994, Zidane ra mắt trong màu áo đội tuyển Pháp, ở một trận giao hữu.

    Khởi đầu ấn tượng trong màu áo đội tuyển Pháp.

    Ngày 27/5 năm 1997, Zidane trở thành người ghi bàn thắng đầu tiên trên sân Stade de France.

    3. Những năm tháng huy hoàng với Juventus (1996-2001)
    [IMG]
    Sau những năm tháng cùng Cannes và Bordeaux, Zidane đầu quân cho Juventus năm 1996, đánh dấu một bước ngoặt vô cùng lớn cho sự nghiệp huy hoàng của anh.

    Đối đầu với thần tượng Enzo Francescoli (1996)

    Ngay từ khi còn là một cầu thủ học việc, Zidane rất “mê” phong cách chơi bóng hào hoa của Enzo Francescoli - ngôi sao tiền vệ người Uruguay. Khoái đến nỗi, Zizou “dứt khoát” tên cậu con trai đầu tiên phải là Enzo.

    Cuối cùng thì mơ ước được đối đầu với thần tượng đã trở thành hiện thực, khi Zidane cùng Juventus tranh Cup liên lục địa với River Plate. Kết quả là, “trò” đã thắng “thầy”. Nhưng Zidane chẳng quan tâm tới chiếc Cup, bởi anh cho rằng bản thân đã thực hiện được điều còn giá trị hơn gấp bội lần: được đổi áo cùng Francescoli.

    Scudetto đầu tiên (1997)

    Giúp Juve vượt qua Milan ở Serie A.

    Zidane tiềm năng, Zidane tay trắng, đó là những điều mà người ta có thể nói khi anh mới gia nhập Juventus. Vấn đề là làm thế nào để phát huy tiềm năng ấy trong môi trường khắc nghiệt như Serie A. Vạn sự khởi đầu nan, những lời chỉ trích cứ tăng dần trên mặt báo trong giai đoạn đầu mùa bóng 1996/1997. Nhưng dưới sự dẫn dắt của HLV đầu bạc Marcello Lippi, Zidane nhanh chóng đạt tới "độ chín" và trở thành thủ lĩnh của Juventus lúc nào không hay.

    Đó là dấu mốc quan trọng nhất, khẳng định đẳng cấp quốc tế của tiền vệ người Pháp. Cầu thủ "sinh ra để chiến thắng" chẳng mấy chốc đã sưu tập được danh hiệu lớn đầu tiên trong đời - "Scudetto".

    Zidane giành Siêu Cup châu Âu năm 1996, Cup Liên lục địa 1996, Siêu Cup Italy năm 1997, giành chức vô địch Serie A năm 1997 và 1998, cùng 2 lần vào tới trận chung kết Champions League năm 1997 và 1998 trong sắc áo Juve.

    4. Vô địch thế giới (12/7/1998)[/B]
    [IMG]
    Đánh bại đội tuyển Brazil với Rivaldo và Ronaldo đang ở phong độ đỉnh cao quả là chuyện hoang đường. Nhưng Pháp đã làm được điều đó, thậm chí là với tỷ số 3-0 trong trận chung kết World Cup 1998. Zidane trở thành "người hùng" sau hai pha dứt điểm kinh điển từ cái đầu hói trứ danh (bàn còn lại do công Petit).
    [IMG]
    Hai bàn thắng cực kỳ quan trọng của anh trong trận chung kết gặp Brazil năm 1998 giúp Pháp lần đầu tiên vô địch thế giới. Cả nước Pháp hô vang tên anh.
    Cực sướng. Đó là cảm giác của người dân Pháp. Còn gì tuyệt vời hơn khi hạ được nhà ĐKVĐ để leo lên đỉnh cao nhất, sau 12 năm ác mộng (vắng mặt ở hai kỳ World Cup 1990 và 1994). Điều tuyệt vời nữa là sau Michel Platini huyền thoại, người ta lại tìm được một "chú gà trống" thủ lĩnh.

    Khoảnh khắc khó quên nhất trong sự nghiệp.

    5. Nhận Quả bóng vàng châu Âu tại Paris (1998)
    [IMG]
    Năm thi đấu vĩ đại kết thúc đồng nghĩa với việc Zizou trở thành "kẻ tham lam nhất hành tinh". Ngoài Scudetto (lần thứ hai liên tiếp) và Cup thế giới, cầu thủ 26 tuổi còn vơ nốt Quả bóng vàng châu Âu và danh hiệu cầu thủ hay nhất FIFA.
    Thành tựu tại World Cup đưa Zidane lên hàng siêu sao. Sau đó, anh nhận danh hiệu Cầu thủ hay nhất thế giới

    Sinh ra ở Marseille nhưng đăng quang và được tôn vinh ở Paris, điều này xem ra có vẻ hơi trái khoáy bởi CĐV của hai thành phố này vốn chẳng ưa nhau. Nhưng vì Zizou, họ sẵn sàng tạm gác mọi "hận thù" trong buổi tối trao giải do tạp chí France Football tổ chức tại thủ đô. Đó là Quả bóng vàng châu Âu duy nhất của tiền vệ tài hoa gốc Algeria, nhưng sau này anh còn nhận thêm hai danh hiệu "cầu thủ hay nhất FIFA" vào các năm 2000 và 2003.

    6. Vô địch châu Âu (2000)

    Giới chuyên môn hay nói một cầu thủ tài năng sẽ bắt đầu rực sáng vào năm 24 tuổi nhưng "chín nhất" phải là năm 28 tuổi. Quan điểm này hoàn toàn đúng với Zidane. Nếu như tại World Cup 98, tiền vệ cao 1,80 m chỉ thực sự tỏa sáng trong trận chung kết với 2 quả đánh đầu thì tới Euro 2000, Zizou trở thành một nhạc trưởng thực thụ.

    Hoa mắt vì hàng loạt pha múa chân diệu nghệ. Chạy bở hơi tai sau vô số đường chuyền chính xác đến từng cm. Các đối thủ lần lượt đầu hàng. Đội tuyển Italy đã quá "đen" trong trận chung kết khi bị Pháp gỡ hòa ở phút cuối cùng và đảo ngược kết quả trong hiệp phụ. Tuy thế, các nhà báo vẫn nhất trí Zidane là cầu thủ hay nhất trong cái đêm "kinh hoàng" ở Rotterdam.
    [IMG]
    Lần thứ 2 giành danh hiệu Cầu thủ hay nhất thế giới, Zidane nằm trong số những cầu thủ vĩ đại nhất hành tinh.

    7. Gia nhập Real Madrid (9/7/2001)
    [IMG]
    Vô địch Italy, đoạt Cup thế giới, thống trị châu Âu, "kẻ tham lam" lại để mắt đến danh hiệu Champions League, sau hai lần vồ hụt vào các năm 1997 và 1998. Nhận được lời mời của "thiên hà Real Madrid", Zizou nói ok liền. Vấn đề còn lại chỉ là thuyết phục Juventus chịu nhả anh ra. Việc này thì quá đơn giản với vị chủ tịch "bạo gan" Florentino Perez.
    Năm 2001, Zidane chuyển sang thi đấu cho Real Madrid, với giá kỷ lục 78 triệu euro.

    Cái giá kỷ lục thế giới 78 triệu euro vừa đưa ra đã khiến "bà đầm già" hoa mắt, và cũng chẳng mất đi sự tỉnh táo. Mất Zidane, Juve có ngay Nedved, Buffon, Thuram, Salas, một thương vụ đôi bên đều có lợi. Ngày 9/7/2001 đã đi vào lịch sử Real Madrid khi cho ra mắt cầu thủ đắt giá nhất hành tinh, và mang số áo của một......hậu vệ (số 5) - vì thế mà còn có biệt danh "Chanel số 5" (một loại nước hoa cực kỳ nổi tiếng của Pháp).

    Qua vụ chuyển nhượng đình đám nhất lịch sử này có rất nhiều giai thoại từ việc tình cờ Florentino Perez gặp Zidane tại 1 nhà hàng tại Ý (chả biết có tình cờ thật ko) rồi chủ tịch của clb xuất sắc nhất thế kỉ viết vội cho anh vào 1 tờ giấy rằng "Anh có muốn khoác áo Real không? Tôi ước gì điều đó xảy ra” và kết quả là Zidane trả lời "Ok". Lịch sử đã chứng minh quyết định đó của Zidane là vô cùng đứng đắn khi tại đây anh hội tụ cùng các siêu sao đỉnh nhất của TG và giành chiếc Cup C1 duy nhất trong sự nghiệp mình, điều mà trước đó anh từng thất bại tới 2 lần mặc dù đã vào đến tận CK Champion League cùng Juve.

    8. Vô địch Champions League (15/5/2002)
    Cuối cùng thì chiếc Cup danh giá nhất châu Âu cấp CLB cũng về tay vị chủ nhân được coi là xứng đáng. Đích thân Zidane ghi bàn thắng quyết định trong trận chung kết hạ Leverkusen 2-1 tại sân Hampden Park. Sau quả tạt chính xác của Roberto Carlos, Zizou xoay "bản lề" vôlê chân trái đẹp như vẽ từ khoảng cách 16 m, khiến thủ môn Hans Jorg Butt bổ nhào vô vọng.
    [IMG]
    Cú vôlê kinh điển ngay trước mặt Lucio của Zidane trong trận chung kết Champions League 2002 trở thành một trong những kỳ quan của bóng đá( xếp thứ 2 sau bàn thắng kinh điển của Diego Maradona ghi ở World Cup 1986 trong danh sách bình chọn các bàn thắng đẹp nhất mọi thời đại)

    Chiến thắng trước Leverkusen của Real mang đậm dấu ấn tài hoa của tiền vệ người Pháp. Chiếc Cup C1 thứ 9 .cũng là danh hiệu Champions League đầu tiên của Zizou.

    9. Cầu thủ hay nhất thế giới lần thứ 3

    Năm 2002 cũng là thảm họa với Zidane bởi anh bị chấn thương hành hạ, còn Pháp bị loại khỏi World Cup ngay từ vòng bảng mà không ghi nổi một bàn thắng.

    Nhưng anh vẫn giành danh hiệu Cầu thủ hay nhất thế giới lần thứ 3 (2003)

    Với nhiều người hâm mộ anh đã là cầu thủ vĩ đại nhất Châu Âu từ trước tới nay, riêng ở Pháp anh đã 5 năm liền dẫn đầu danh sách các nhân vật được yêu thích nhất, điều chưa từng có trong lịch sử nước này.

    10. Chia tay Real Madrid
    [IMG]
    Siêu sao người Pháp Zinedine Zidane đã chính thức chia tay khán giả Bernabeu sau một trận đấu đầy kịch tính với Villareal (3-3).

    Ở đâu và tại bất cứ thời điểm nào anh cũng để lại dấu ấn của mình, cho dù lúc đó phong độ cao hay thấp. Trong trận đấu chính thức cuối cùng trên sân Bernabeu, Zinedine Zidane bỗng lóe sáng ở phút 67, với một pha đánh đầu chéo góc đẹp mắt sau quả tạt của David Beckham, san bằng tỷ số 2-2. Bàn thắng gỡ hòa 2-2 bằng đầu thực sự là một món quà ý nghĩa. Nó gợi lại những ngày đẹp nhất trong sự nghiệp khi anh ghi hai bàn trong trận chung kết France 1998 vào lưới Brazil. Đó là món quà mà cựu cầu thủ hay nhất thế giới dành tặng CĐV sân Bernabeu. Với đội bóng Hoàng gia Tây Ban Nha, Zizou đã giành mọi danh hiệu cao quý nhất, chỉ trừ Cup nhà vua.

    Zinedine Zidane sẽ chấm dứt chơi bóng sau mùa hè 2006.

    Các Madridista chia tay số 5 huyền thoại.

    Trận đấu hấp dẫn với Villarreal cuối cùng cũng phải nhường chỗ cho nỗi buồn trên thánh địa trắng, với những hình ảnh số 5 “merengue” chào tạm biệt khán giả nhà trong tràng vỗ tay vô tận. Hành trình của Zizou tại đội bóng vĩ đại nhất thể kỉ 20 đã kết thúc, nơi mà anh đã nâng cao tất cả các danh hiệu quan trong, chỉ trừ có chiếc Cúp Nhà vua.

    Và nếu tinh ý chúng ta sẽ thấy anh đã khóc sau khi vẫy tay khán giả Bernabeu, nơi đã đưa anh lên đến đỉnh của vinh quang, nơi giúp anh hoàn thành bộ sưu tập danh hiệu của mình.
    Anh có thể là cầu thủ duy nhất giành tất cả các danh hiệu cao quý nhất với sự nghiệp 1 cầu thủ chhuyên nghiệp.

    11. WorldCup 2006 - chiến binh già và cuộc thập tự chinh cuối cùng

    Sau thất bại trước Hy Lạp ở Euro 2004, Zidane đã quyết định từ giã đội tuyển Pháp. Nhưng rồi, lời kêu gọi của người hâm mộ và HLV Domenech đã kéo Zidane quay lại và hồi sinh.

    Pháp hạ Tây Ban Nha (3-1)
    [IMG]
    Sau khi vượt qua vòng bảng một cách chật vật. Pháp tiếp tục hạ Tây Ban Nha. Với TBN, một lần nữa World Cup lại là nỗi ám ảnh truyền kiếp. Một đội hình trẻ trung, giàu tài năng phải thi đấu bằng sở đoản, nghĩa là chơi thận trọng và rình rập những cơ hội từ trên trời rơi xuống, đã không thể tránh được cái dớp thất bại của lứa đàn anh.

    Kinh nghiệm nhiều năm chơi các trận bóng đỉnh cao thế giới giúp đội trưởng Pháp điều chỉnh hợp lý tốc độ trận đấu. Phẩm chất ngôi sao là đây. Trong những lúc căng thẳng như thế này, sự tỉnh táo của Zidane cũng tạo nên làn sóng tin tưởng chạy dọc sống lưng tuyển Pháp. Có Zidane cạnh bên, tiền vệ trẻ Ribery cũng tự tin hơn. Pháp thắng nhưng không thật ấn tượng. Một lần nữa, Vieira lại gánh vai trò người hùng của đội Pháp. Chính anh là người chọc khe cực kỳ thông minh cho Ribery băng xuống, lừa bóng qua thủ thành Casillas và ghi bàn gỡ hòa 1-1 vài phút trước lúc kết thúc hiệp đấu đầu tiên. Phút 83, đích thân Vieira đánh đầu cận thành nâng tỷ số lên 2-1. Cũng lại chính anh là người cướp bóng, phát động cuộc tấn công dẫn đến pha ghi bàn ấn định kết quả 3-1 của Zidane ở phút cuối.

    Zidane chơi mờ nhạt nhưng vẫn có bàn thắng đầu tiên tại giải

    Một lần nữa hạ gục Brazil

    Khởi đầu chậm như rùa, nhưng Pháp đã lao đi với tốc độ của chiếc xe đua F1. Cả những người ủng hộ hay không thích "Gà trống Gaulois" đều đang muốn tìm hiểu xem đâu là lý do dẫn tới thành công đáng kinh ngạc này của đoàn quân áo lam.

    Trong cả trận, Brazil chỉ có 5 lần dứt điểm và chỉ có 1 trong số đó hướng về phía khung thành Pháp.

    Trận thắng của "Những chú gà trống Gaulois" trước ĐKVĐ Brazil là một cơ hội để báo chí thế giới tha hồ bộc lộ những thái cực tình cảm. Họ khen Pháp hết lời, đồng thời vùi dập Brazil. Cùng rời cuộc chơi từ tứ kết, nhưng thất bại của ứng cử viên số một và là nhà ĐKVĐ khiến các CĐV Brazil bất ngờ và đau đớn hơn rất nhiều so với những người đồng cảnh ngộ ở Argentina hay Anh. Được ca tụng bằng biết bao mỹ từ, nhưng Selecao, với dàn sao sáng nhất thế giới như Kaka, Ronaldinho đang có phong độ cực cao, chẳng thể hiện thực hóa ước nguyện "hexa campeao" (đoạt Cup vàng thứ 6) của hơn 180 triệu người Brazil. Thày trò HLV Parreira đã gục ngã trước một ĐT Pháp già, ít tài năng hơn và chơi vật vờ từ sau thất bại ở Nhật Bản - Hàn Quốc 4 năm về trước nhưng họ có Zizou, huyền thoại của những huyền thoại.

    Những bài viết về đội tuyển Pháp trên báo chí.

    Có thể nặng nề hơn những năm trước, có thể mồ hôi đã đổ nhiều hơn, nhưng đoạn cuối sự nghiệp của Zidane vẫn tuyệt đẹp. Pháp đã chơi trội hơn hẳn Brazil từ đầu cho tới cuối trận đấu. Họ cũng đã cho đội tuyển vàng xanh một bài học về tinh thần đoàn kết. Tất cả các ngôi sao của đội tuyển Pháp, dưới sự dẫn dắt của Zidane, đã vào cuộc với tinh thần đồng đội cao nhất. Những lời chúc mừng của Tổng thống Jacques Chirac và Thủ tướng Dominique de Villepin cũng được đăng trên báo. Ông Chirac nói: "Chưa bao giờ tôi cảm thấy vui như hôm nay. Cả đội tuyển Pháp thật đáng khâm phục". Còn ông Villepin cũng đã ca ngợi HLV trưởng Raymond Domenech trong một thông điệp được gửi tới đội nhà ngay sau trận đấu: "Các bạn đã làm được những điều thật đáng khâm phục".

    Vượt qua BĐN
    [IMG]
    "Những chú gà trống Gaulois" đã thể hiện bản lĩnh và tài năng để đánh bại Bồ Đào Nha với tỷ số 1-0 trong trận bán kết căng thẳng đến phút cuối cùng. Bàn thắng của Zidane từ chấm phạt đền một lần nữa đóng đinh lên giấc mơ World Cup của người Bồ Đào Nha. Sau tiếng còi mãn cuộc, niềm vui hớn hở của người Pháp là nổi buồn ngơ ngẩn đối với thày trò HLV Scolari và CĐV của họ.

    Ricardo chịu thua Zizou trên chấm phạt đền. Zidane vẫn gắn liền với thành công, vẫn là niềm tin và hy vọng của người Pháp Còn Figo lại là đại diện cho những kẻ thất bại vĩ đại của bóng đá BĐN. 2 năm qua, Figo mất chức vô địch Euro 2004, nay thì không vào nổi trận chung kết World Cup 2006.

    Trước mắt, hai danh thủ của bóng đá thế giới là Zidane và Figo chỉ còn một trận đấu lớn cuối cùng. Không quá vui cũng chẳng quá buồn, người thắng kẻ thua, Zidane và Figo, ôm lấy nhau và đổi áo sau khi tiếng còi mãn cuộc cất lên. Sau nhiều năm sát cánh tại Real, có lẽ sau trận đấu này cả hai chẳng còn dịp cùng ra sân. Zidane đã quyết giã từ sân cỏ khi World Cup kết thúc. Sự nghiệp của Figo chắc cũng không còn dài.
    [IMG]
    Trận CK Pháp - Ý.

    Thi đấu một trận tệ nhất kể từ đầu giải, nhưng đội quân áo thiên thanh lại đổi vận trên chấm phạt đền để giành thắng lợi 5-3. Pháp chơi hay hơn hẳn ở hiệp hai và hai hiệp phụ, nhưng vẫn phải chấp nhận tỷ số 1-1 sau 120 phút. Zidane đã có một sự chia tay buồn, với tấm thẻ đỏ cuối trận sau hành động phi thể thao.

    [IMG]
    Trước sự chứng kiến của hàng tỷ người trên khắp hành tinh, Zizou đã tự làm xấu hình ảnh tốt đẹp của mình bằng hành động húc đầu vào ngực Materazzi để rồi rời sân với tấm thẻ đỏ. Anh trở thành cầu thủ thứ 4 bị truất quyền thi đấu trong một trận chung kết World Cup. Như hiểu rõ tội của mình, Zidane không phản ứng, nặng nề cúi đầu rời sân và không còn cả hứng thú để liếc nhìn Cup vàng bày sẵn lúc anh đi ngang qua. Anh từng tuyên bố chia tay đội tuyển hồi sau Euro 2004, nhưng rồi quyết định trở lại để giúp Pháp qua vòng loại và thực hiện chiến dịch chinh phục Cup vàng lần hai. Lão tướng này đã bất ngờ hồi sinh, có đóng góp lớn đưa "những chú gà trống Gaulois" vào tới chung kết, nhưng rồi, vì một phút thiếu kiềm chế, anh đã phải chấm dứt sự nghiệp quốc tế với một tì vết. Không được như một viên ngọc hoàn mỹ, nhưng Zidane vẫn sẽ được lịch sử ghi danh là một huyền thoại. Chắc chắn là như thế, vì những gì anh đã cống hiến và thể hiện trước đó.


    Cú húc đầu kinh điển Thẻ đỏ nghiệt ngã Zidane đi qua Cup vàng khi bị đuổi khỏi sân.

    Một bài hát có tên là “Húc đầu”, ra đời sau hôm diễn ra trận chung kết World Cup, Ba cổ động viên thất vọng của xứ Gaulois đã viết ra nó trong vòng 30 phút. Lời ca hài hước trêu chọc tiền đạo David Trezeguet, người đá trượt trong loạt sút luân lưu quyết định kết quả trận đấu và nhắc lại cú húc đầu khiến đội trưởng đội tuyển Pháp lĩnh thẻ đỏ.

    Với các cổ động viên đội tuyển Pháp, Zinedine Zidane vẫn là một hình ảnh đáng được tôn thờ, cho dù anh đã bị đuổi khỏi sân trong những phút cuối trận chung kết vì một hành động phi thể thao. Đã không có ai coi anh là "tội đồ" cả.

    Một ngày sau đó, Zidane vẫn giành Quả bóng vàng World Cup 2006.


    Người ngoài hành tinh Ronaldo

    [IMG]
    Với các Madridista thì Ronaldo ko thực sự thành công ở Real bởi phần lớn quãng thời gian anh thi đấu là quãng thời gian đen tối nhất lịch sử clb với 4 năm tay trắng, nhưng những gì mà anh đã đóng góp cho clb là ko phải bàn cãi. Chúng ta đã từng đc say mê dõi theo từng bước chạy vun vút của anh rồi vỡ òa trong niềm vui sướng khi anh ghi bàn. Với cá nhân tôi, Ronaldo là một trong những siêu tiền đạo vĩ đại nhất TG. Ở anh chúng ta thấy kỹ năng ghi bàn siêu đẳng kết hợp với phẩm chất kỹ thuật của các cầu thủ Barasil đc hỗ trợ bởi 1 tốc độ "tên lửa", có thể nói trong bóng đá hiện đại khó mà kiếm đc 1 tiền đạo toàn diện đến như thế. CHúng ta sẽ ko bao h quên những cái đảo chân, những cú châm bóng tinh tế hay những cú đua nước rút kinh hoàng của anh. Anh đã khiến cho biết bao con tim yêu bóng đá phải thổn thức khi nghe tin anh dính chấn thương có thể phải giã từ sân cỏ, may thay điều ấy đã ko xảy ra. Với tôi, anh mãi là 1 huyền thoại!!!
    [IMG]


    Tiểu sử:

    Tên đầy đủ: Ronaldo Luís Nazário de Lima (sinh ngày 22 tháng 9 năm 1976 tại Bento Ribeiro, Rio de Janeiro, Brasil), nổi tiếng thế giới từ năm 1995 với tên Ronaldo. Là 1 cầu thủ bóng đá người Brasil (anh cũng có quốc tịch Tây Ban Nha) có kỹ thuật và thể lực tốt, Ronaldo được mệnh danh người ngoài hành tinh. Anh còn là chân sút xuất sắc nhất trong các kỳ World Cup khi ghi tổng cộng 15 bàn thắng (1998: 4 bàn, 2002: 8 bàn, 2006: 3 bàn). Với 3 lần đoạt cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA và 2 lần đoạt quả bóng vàng châu Âu, anh cùng người bạn thân Zinedine Zidane là những đại diện tiêu biểu nhất của nền bóng đá hiện đại.

    Đời sống

    Nhân sinh ở Bento Ribeiro, vùng ngoại ô Rio de Janeiro, Brasil, Ronaldo sống trong một gia đình nghèo và không mấy yên ổn. Bố mẹ anh rất thường cãi nhau, đến năm Ronaldo 17 tuổi thì họ ly dị, mẹ anh phải làm ở hộp đêm, một mình anh tự có trách nhiệm kiếm tiền chu cấp cho cả hai gia đình.

    Năm 1996, Ronaldo bắt đầu nổi tiếng, anh mua cho bố một tiệm pizza, mua cho mẹ một căn nhà để an dưỡng, anh cũng mua nhà cho nhiều người khác trong dòng họ và gia đình.

    Tháng 4 năm 1999, Ronaldo cưới Milene Domingues, sau cuộc tình làm tốn hao bút mực với cầu thủ nữ kiêm siêu mẫu Susanna. Hai người ở với nhau 4 năm rồi ly dị, thành quả là một cậu con tên Ronaldo vào năm 2000.

    Năm 2005, Ronaldo đính hôn với siêu mẫu Brasil Daniela Cicarelli, nhưng hôn nhân không thành, do anh lại có một tình yêu mới mang tên Raica Oliveira. Nhưng rồi sau World Cup 2006, Raica lại nói chia tay, không biết vì tính trăng hoa của Ronaldo hay phong độ sút kém của anh tại Real Madrid.

    Đến nay, 2007, Ronaldo đang sống độc thân, sau chặng đường phiêu lưu tình ái đầy gian khó. Mục tiêu phấn đấu của anh hiện nay là "Trở lại làm cầu thủ số 1 thế giới", thay vì là sát thủ tình trường số 2 thế giới, sau Christian Vieri. Anh cũng quan tâm nhiều hơn đến các hoạt động xã hội, thay vì ăn chơi, mới đây Ronaldo và Zinedine Zidane, hai đại diện xuất sắc nhất của bóng đá hiện đại đã thi đấu một trận từ thiện do UNESCO tổ chức.
    Sự nghiệp

    Tại câu lạc bộ

    Như nhiều ngôi sao Brasil khác, Ronaldo làm quen với bóng đá từ những "trận bóng lề đường", và từ đó anh đã thể hiện năng khiếu bóng đá cùng với lòng say mê cuồng nhiệt của mình.

    Năm 16 tuổi, nghỉ học. Được người thân ủng hộ, Ronaldo từ giã đội bóng cấp tỉnh Sao Cristovao và nộp đơn tuyển sinh vào Flamengo, câu lạc bộ có Zico thần tượng của anh. Flamengo lúc đầu rất quan tâm tới "thần đồng" Ronaldo, nhưng khi anh đến trễ 8 phút, CLB đã mời anh ra khỏi cửa và thậm chí không đưa tiền mua vé cho anh về, Ronaldo đành phải đi bộ. Mơ ước vào Flamengo thuở nhỏ của anh xem như tan biến. Ronaldo lại nộp đơn vào Cruzeiro, câu lạc bộ đang chơi ở giải hạng nhất Brasil, và được chào đón nồng nhiệt. Ở giải vô địch quốc gia Brasil, Ronaldo thi đấu 14 trận và ghi 12 bàn thắng.

    Năm sau (17 tuổi) Ronaldo được câu lạc bộ nổi tiếng thế giới PSV Eindhoven mua lại. Tại đây anh thi đấu 46 trận, ghi 42 bàn thắng, một xác suất ghi bàn hiếm có.

    Năm 1996, Ronaldo 19 tuổi và được cả Inter Milan lẫn F.C. Barcelona tranh giành, PSV đưa ra giá 14 triệu, Barcelona nhanh hơn, có được Ronaldo. Chơi ở La Liga, mọi phẩm chất của Ronaldo đều được công nhận, anh được tặng danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất thế giới và quả bóng vàng châu Âu 2 năm liên tiếp, sau đó mới chuyển sang Inter Milan với mức chuyển nhượng kỷ lục lúc đó là 27 triệu bảng. Một vụ chuyển nhượng làm hao tốn nhiều giấy mực của báo chí, vì Barcelona chưa chịu bỏ anh, định đâm đơn kiện Inter vì nghi ngờ có "sự thiếu minh bạch".
    [IMG]
    Nhưng cuối cùng thì Ronaldo cũng chơi ở Serie A, trở thành người hùng của Inter tại cúp C3 (nay là UEFA cup) năm 1998. Năm đó là năm diễn ra World Cup 1998, Ronaldo đoạt giải quả bóng vàng World Cup trước khi thi đấu trận chung kết, vật vờ như một bóng ma. Trước trận đấu này Ronaldo đã lên cơn động kinh, theo như lời của Roberto Carlos nói thì anh đã uống nửa viên thuốc màu xanh trước đó, rồi suy sụp hoàn toàn. Tuy nhiên mọi việc vẫn còn nằm trong bí ẩn. Năm đó Brasil thua 0 - 3, Pháp đoạt cúp vô địch, Ronaldo, cầu thủ chơi hay nhất đội nghiễm nhiên trở thành kẻ tội đồ.

    Trở về Milano, Ronaldo bắt đầu những đợt chấn thương dai dẳng, liên tiếp. Lần té ngã lâu nhất của anh là vào năm 1999 tại sân Olympico, trong trận đấu với AS Roma. Ronaldo phải nghỉ chơi bóng đá đến 2 năm rưỡi. Inter Milan dù vậy vẫn không bán anh, kiên nhẫn chờ đợi một sự bình phục và tỏa sáng.
    [IMG]
    Và quả thật "người ngoài hành tinh" (biệt danh của Ronaldo từ năm 1997) đã đứng dậy, năm 2002, tại cúp thế giới tổ chức ở Hàn Quốc - Nhật Bản. Ronaldo đưa tuyển vàng xanh lên ngôi vô địch, và giành luôn danh hiệu vua phá lưới, sự chờ đợi của Inter đã có kết quả. Tuy nhiên liền sau đó, Ronaldo nói lời tạm biệt với thành Milano, bay sang Madrid đầu quân cho Real Madrid. Các Fan ở Inter Milan không thể hiểu nổi, họ tức tối tặng cho anh thêm một biệt hiệu: "Kẻ phản bội".

    Thành công ở Real Madrid một thời gian, rồi World Cup 2006 tại Đức xảy ra, Ronaldo và tuyển vàng xanh lại thất bại cay đắng dưới tay người Pháp. Trở về Madrid, "người ngoài hành tinh" không được huấn luyện viên mới Capello trọng dụng nữa. Tại La Liga Ronaldo chỉ được thi đấu 8 trận, trong đó có 1 trận kéo dài 90 phút, còn lại không quá 15 phút, ghi được đúng 1 bàn - bàn thắng đã khiến chấn thương gối tái phát. Tại Champions League anh được ra sân 4 trận từ ghế dự bị, trong đó có 1 trận ghi được 2 bàn.
    [IMG]
    Thời gian này Ronaldo lên cân quá, hơn 20 ký so với năm 1998, nên báo chí tặng anh thêm 1 biệt danh nữa là "Gã béo".

    Cuối cùng, tháng 2/2007, cùng với bạn thân David Beckham, Ronaldo buộc phải rời Madrid, nếu không muốn ngồi mãi ở "đài quan sát". Beckham sang Galaxy, Mỹ, với mức lương hứa hẹn là cao nhất thế giới, Ronaldo quay trở lại kinh đô thời trang, lương cao nhì thế giới (sau Ronaldinho), nhưng chỉ nhận được phân nửa sự tiếp đón, bởi không như trước đó 10 năm, Ronaldo đến Milano với mức chuyển nhượng 7 triệu bảng Anh và đầu quân cho A.C. Milan, kình địch của Inter Milan, câu lạc bộ gắn liền với chấn thương và tên tuổi anh ngày xưa.
    [IMG]

    Tại Serie A, không như mọi người nhận định, Ronaldo đã giảm cân và đang lấy lại dần phong độ, anh ghi 2 bàn trong trận đầu tiên ra quân dưới "màu áo sọc đỏ đen", trong đội hình chính thức. Trước trận Derby thành Milano tại sân San Siro, các Fan của Inter Milan đã mua "3 vạn chiếc còi" để phản đối sự có mặt của anh. Nhưng Ronaldo đã ghi bàn mở tỉ số vào lưới đội bóng cũ, trận này AC Milan thua Inter Milan 1 - 2.
    Các câu lạc bộ đã và đang tham gia

    * 1993 - 1994: Cruzerio
    * 1994 – 1996: PSV Eindhoven
    * 1996 - 1997: FC Barcelona
    * 1997 – 2002: Inter Milan
    * 2002 - 2007: Real Madrid
    * 2007 - : AC Milan

    Thi đấu quốc tế

    Ronaldo thi đấu cho đội tuyển vàng - xanh lần đầu tiên vào năm 1994, trong trận giao hữu với Argentina, trên sân Recife.

    Tại World Cup 1994 tổ chức tại Mỹ, anh được mang áo số 18, tuy nhiên không được ra sân trận nào, vì hàng công đã có 2 trụ cột vững chắc là Bebeto và Romario. Lúc này người ta gọi anh là "Ronaldinho" (nghĩa là Ronaldo nhỏ), vì trong tuyển quốc gia có một người nữa tên Ronaldo: Ronaldo Guiaro (đến nay cái tên Ronaldinho được chuyển sang Ronaldo de Assis Moreira, bạn thân của anh). Từ sau World Cup 1994, Ronaldo dần thay thế Bebeto, trở thành nhân vật chủ chốt của tuyển quốc gia.

    Đến năm 1998, sau 2 năm thành công liên tiếp (đoạt danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất trong năm của FIFA, năm 1996 - 1997), Ronaldo tham dự World Cup 1998, được huấn luyện viên Mario Zagallo xếp vào đội hình chính thức. Tại giải này anh ghi được 4 bàn thắng, trong đó có 1 bàn quan trọng tại trận bán kết gặp Hà Lan. Trước trận chung kết, anh được trao danh hiệu quả bóng vàng FIFA World Cup, sau đó Brasil thua Pháp 0 - 3. Thể trạng kém cỏi đột ngột của anh trong trận ấy đến nay vẫn còn là một nghi vấn.

    Sang năm 1999, Ronaldo cùng Rivaldo, Roberto Carlos (mà báo chí gọi là "bộ ba R") có công lớn đưa Brasil đoạt Copa America, Ronaldo là "vua phá lưới" giải này với 5 bàn thắng.

    Sau đó 3 năm, tại World Cup 2002, Ronaldo tái hợp cùng Rivaldo, hai người luân phiên ghi bàn, và Brasil đoạt chức vô địch. Anh được trao giải "chiếc giày vàng" với 8 bàn thắng ghi được, trong đó có 2 bàn nổi tiếng ghi trong trận chung kết gặp Đức, vào lưới Oliver Kahn- "quả bóng vàng" và cũng là thủ môn xuất sắc nhất giải. Tại giải này anh trở thành cầu thủ Brasil ghi nhiều bàn thắng tại World Cup, với 12 bàn qua 2 kỳ, vượt qua Pelé trước đó (Pele ghi 10 bàn qua 3 kỳ).

    Ngày 2 tháng 6 năm 2004, Ronaldo lập hat-trick (ghi 3 bàn trong 1 trận) vào lưới đội tuyển Argentina trong trận đấu vòng loại World Cup 2006.

    Đến mùa hè năm 2006, World Cup tổ chức tại Đức, Ronaldo cùng đội bóng Vàng - Xanh đà trình diễn một "lối chơi kém thuyết phục". Trong 2 chiến thắng trước Croatia và Úc, anh không ghi bàn thắng nào và đều bị thay thế bởi Robinho vào giữa trận. Tổng thống Brasil đã bày tỏ lo ngại về thể trạng Ronaldo, nhưng theo anh, mọi sự chỉ trích về trọng lượng quá béo của anh (95 ký, hơn 18 ký so với năm 1998) đều là "bất lịch sự".

    Bàn thắng đầu tiên anh ghi được tại World Cup 2006 là vào lưới thủ môn Kawaguchi, trong trận đấu gặp đội Nhật bản, trận này anh ghi được 2 bàn. Sau đó, gặp Ghana tại vòng 1/16, anh mở tỉ số bằng một pha lừa qua thủ môn. Cả giải ghi được 3 bàn thắng, tổng cộng số bàn Ronaldo ghi được tại World Cup lúc này là 15 bàn thắng, vượt qua Gerd Muller của Đức, trở thành một kỷ lục mới. Tuy nhiên anh chỉ nhận được 1 thẻ vàng trong trận gặp Pháp tại vòng tứ kết, từ một pha cãi với trọng tài. Brasil thua 0 - 1, bị loại, 3 người bị chỉ trích nhiều nhất là Carlos Alberto Parreira (huấn luyện viên), Ronaldinho và Ronaldo.
    [IMG]
    Sau World Cup 2006, Carlos Dunga lên làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia. Từ đó cho đến nay, Ronaldo chưa được gọi vào thi đấu lần nào.

    Bộ ba R

    Từ khi Ronaldo nổi danh, chơi cạnh Rivaldo trên hàng tiền đạo cùng sự hỗ trợ đắc lực của Roberto Carlos, hậu vệ cánh trái nổi tiếng chơi như một tiền đạo, báo chí có cụm từ "Bộ ba R", để chỉ ba người nổi bật nhất trong lối chơi tấn công toàn đội.

    * Tại World Cup 1998, bộ ba đó là Ronaldo, Rivaldo, Roberto Carlos.
    * Tại World Cup 2002, Carlos ít tham gia tấn công hơn, bộ ba R là: Ronaldo, Rivaldo và Ronaldinho.
    * Tại World Cup 2006, Rivaldo từ giã đội tuyển, người ta dự đoán Robinho sẽ bù đắp được vị trí này, nhưng Robinho chưa thay thế được Rivaldo, bộ ba Ronaldo, Ronaldinho, Robinho chỉ còn là "hữu danh, vô thực".

    Hoạt động xã hội

    Từng là đại sứ thiện chí trong Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc năm 2000.

    Anh cũng đóng góp nhiều tiền vào quỹ cứu tế trẻ em 2 nước Palestine và Israel. Ngoài ra đã tổ chức một chương trình từ thiện cho Israel và vùng Bờ Tây.

    Thành tựu
    * Cá nhân
    o Vua phá lưới World Cup 2002
    o Giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA do các huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia bầu chọn các năm 1996 (trẻ nhất), 1997, 2002, Á quân giải này năm 1998, hạng 3 giải này năm 2003
    o Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới các năm: 1996, 1997, 2002
    o Giải Quả bóng vàng châu Âu do các phóng viên thể thao châu Âu bầu chọn các năm 1997, 2002
    o Bóng Onze: 1997, 2002
    o Cầu thủ xuất sắc nhất UEFA: 1998
    o Chiếc giày vàng châu Âu: 1997
    o Vua phá lưới Copa America 1997
    o Vua phá lưới La Liga: 1996-1997, 2003-2004
    o Vua phá lưới giải vô địch Hà Lan: 1994-1995
    o Cầu thủ trong năm: 2002
    o Chiếc giày vàng: 2006
    * Cúp thế giới
    o Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất trong các kỳ World Cup: 15 bàn sau 19 trận, 3 kỳ.
    o 2006: Chiếc giày bạc (3 bàn thắng)
    o 2002: Vua phá lưới (8 bàn thắng)
    o 2002: Quả bóng bạc
    o 2002: Đoạt chức vô địch
    o 1998: Quả bóng vàng
    o 1998: Chiếc giày bạc (4 bàn thắng)
    o 1994: Đoạt chức vô địch (trong đội hình dự bị)
    * Cúp châu lục và quốc gia
    o Brazilian Cup: Cruzeiro 1993
    o Dutch Cup: PSV Eindhoven 1996
    o Cup Winners' Cup: FC Barcelona 1997
    o Confederations Cup: 1997
    o Copa América: 1997, 1999
    o UEFA Cup: Internazionale 1998
    o Intercontinental Cup: Real Madrid 2002
    o European Super Cup: Real Madrid 2002
    o La Liga - Primera División champions: Real Madrid 2002/2003
    o Spanish Super Cup: FC Barcelona 1996, Real Madrid 2003



    Raul Gonzalez – Chúa Nhẫn- Biểu tượng kiêu hãnh của người Tây Ban Nha

    [IMG]
    Raul Gonzalez Blanco
    Sinh ngày: 27-6-1977 tại Madrid
    Quốc tịch: Tây Ban Nha
    Chiều cao: 1m80
    Cân nặng: 73kg

    Thành tích:
    - Vô địch cúp C1 Châu Âu
    - Cúp liên lục địa
    - Cúp Toyota

    Các CLB đã qua:
    San Cristobal De Los Angeles Athletico Madrid, Real Madrid.

    Ở tuổi 25, Raul Gonzalez cũng đã kịp ghi tên mình vào trang sử kiêu hùng của đội bóng hoàng gia - Real Madrid với tư cách là một trong những cầu thủ cống hiến nhiều nhất cho câu lạc bộ. Với khả năng ghi bàn bẩm sinh, kỹ thuật điêu luyện và kiến tạo những cơ hội “ngon ăn” cho đồng đội, Raul được coi là biểu tượng cho sức mạnh của “xứ sở bò tót” Tây Ban Nha.

    Raul - người ta vẫn gọi anh với cái tên thân mật đầy ngưỡng mộ như vậy, gắn liền với một gương mặt thiên thần và đặc biệt là lối chơi bóng của một trong những cầu thủ tài ba nhất châu Âu. Nhưng giản dị và chân thành, Raul khiêm tốn “Tôi không nghĩ mình là một ngôi sao.”

    Khi người ta ngỏ ý muốn so sánh anh với Ronaldo, với Del Piero hay người tài giỏi nào khác, câu trả lời của Raul là tôi không thích khi người ta so sánh tôi với bất kỳ ai. Danh thủ nào cũng có mặt mạnh, mặt yếu của mình. Chúng tôi chỉ có điểm chung duy nhất là tương lai bóng đá còn có thời gian để khẳng định mình. Chàng trai đang tỏa sáng rực rỡ trên sân cỏ TBN và cả nền bóng đá thế giới đã nói vậy lúc anh 21 tuổi - cái tuổi “quá hợp lý” để người ta tự kiêu và hiếu thắng về tài năng của mình. Song với Raul lại không thế. Bởi vậy bên cạnh một cầu thủ tài ba là một tính cách cực kỳ được lòng người, và Raul được cả nước TBN bủa vây bằng niềm tin, kỳ vọng và mến mộ. Anh là thần tượng của các chú bé mê bóng đá có mơ ước trở thành cầu thủ.

    Raul sinh ra ở vùng ngoại ô Madrid, thưở nhỏ cậu bé cưng Raul đã mài mòn đế giầy trong các trận cầu trẻ con ở những “sân bóng” tự tạo. Điều đó đã hun đúc niềm đam mê bắt đầu bùng cháy ở Raul. Cha Raul là cổ động viên suốt đời của Aletico Madrid - CLB lớn chỉ sau Real của thủ đô TBN, Raul luôn được bám gấu áo cha đến xem tất cả các trận đấu có Aletico. Chính ông đã thổi bùng đam mê bóng đá cho cậu, khi ông “ký lệnh” cho phép cậu con cưng khởi nghiệp trái bóng tròn. Ông đã tòng phạm với Raul ăn gian tới 3 tuổi để gia nhập đội bóng thiếu niên của Aletico. Trước đó, Raul đã tạo dựng được vị trí khá vững chắc trong đội hình “tỉnh lẻ” San Cristobal De Los Angeles.

    Đến với Aletico qua hợp đồng do người cha ký, Raul được đào tạo qua nhiều đội hình trẻ và cho tới khi sắp được ăn quả ngọt thì Aletico muốn giảm bớt chi phí của CLB. Hệ thống đào tạo cầu thủ trẻ của CLB này bị phá vỡ. Thế là thay vì lên thi đấu ở đội hình chuyên nghiệp, Raul được chuyển sang đối thủ đáng ghét của Aletico là CLB Real Madrid.

    Nơi Raul tá túc đầu tiên, Raul đã tỏa sáng với 13 bàn ghi được vào lưới đối phương. HLV của Real Jorge Valdano bị thuyết phục đến sửng sốt, ngay lập tức đưa thiên thần này vào đội hình chính thức. Từ đó “lịch sử” của Real ghi nhận cầu thủ trẻ nhất được khoác áo của đội tuyển mang tên Raul.

    Người ta bắt đầu kỳ vọng vào anh. Rằng Raul sẽ thay thế cực kì hợp lý cho thần tượng Emilio Butragueno trước đây của họ. Chắc chắn Raul không thể không biết điều này. Và anh đã không để họ thở dài lần nào. Ở mùa bóng đầu tiên của đội hình 1, Raul vào sân 28 lần và đã 9 lần buộc thủ môn đối phương phải buồn rầu vào lưới lượm bóng. Một sự khởi đầu tốt đẹp. Người ta bàn luận, có một Raul đang sáng chói trên bầu trời xanh màu sân cỏ của Real, khi ngay mùa bóng đầu tiên này, Raul đã giành được tấm huy chương vàng tại giải Liga.

    Mùa bóng kế tiếp, Raul nổi bật lên sánh vai với các anh tài và vượt cả họ trong thế giới của CLB hoàng gia. Anh ghi 19 bàn thắng trong giải vô địch TBN cùng 6 bàn tại Champions League.
    [IMG]
    Tự tin, khiêm tốn và phát lộ tài năng đầy bất ngờ, Raul đã thể hiện cho toàn bộ đất nước TBN thấy một điều tân binh vẫn có tài lập công như thường, đâu cứ phải dốc hầu bao chi hàng triệu USD để lôi kéo về một anh chàng có tài nhưng đỏng đảnh từ ngoại quốc nào đó. HLV Valdano, người dẫn dắt Raul vào thế giới bóng đá chuyên nghiệp, người mà sự ra đi khỏi Real đã là sự kiện đáng buồn nhất trong cuộc đời cầu thủ của Raul, đã đánh giá học trò của mình: “Trong số những mặt mạnh của Raul, điều đáng kể nhất là biệt tài ghi bàn thắng và khả năng tận dụng cơ hội, dù là nhỏ nhất của anh. Đồng thời, trong cuộc đời tôi, tôi chưa từng gặp một cầu thủ trung thành với bóng đá và tin tưởng vào sức mình như vậy”. Nếu so sánh giữa các mức giá chuyển nhượng cầu thủ đã qua tay CLB hoàng gia Real thì với số tiền chỉ 33.000 USD trả cho CLB địch thủ Aletico để giữ được trong tay Raul thì quả thật Real có con mắt quá tinh đời hay nói Real trúng số độc đắc cũng chẳng ngoa.
    Hoàng tử thành Mandrid
    Sau 7 bàn thắng ghi ngay mùa giải đầu tiên, Raul đã tiến dần chắc chắn vào đội tuyển quốc gia TBN và chiếm cho mình một vị trí vững vàng và không thể thay thế.

    Điểm mốc quan trọng đưa Raul vào đội tuyển quốc gia là hồi tháng 10-1996. Nhưng thành công chưa lập tức mỉm cười với anh chàng trẻ tuổi. TBN bị loại ngay vòng đầu World Cup 98 trong khi khán giả cực kỳ kì vọng trước thành tích nổi bật của họ tại vòng loại để kiếm được suất dự vòng chung kết. Tại vòng đấu loại của giải này, Raul cũng chỉ được đá trọn vẹn 90 phút trong một trận, thành tích ghi được vẻn vẹn là một bàn.

    Cuộc cải tổ hùng hậu sau thất bại này là việc các cầu thủ lớn tuổi không còn chỗ trong đội tuyển quốc gia. Raul trở thành vị trí trụ cột trong đội hình trẻ trung, tài năng và khát khao chiến thắng. Raul đã phát huy cao độ khả năng săn bàn với 11 pha sút tung lưới đối phương. Tuy nhiên vinh quang lại không đến với anh khi TBN phải xách valy về nước sau vòng tứ kết mà nguyên nhân chính bị dư luận đặt lên vai Raul chính là quả phạt đền bay qua xà ngang của anh đã kết thúc mọi tham vọng tiến gần đến chiếc Cúp vô địch.

    Song trong mắt người dân TBN và cả những người mê trái bóng khắp thế giới vẫn là hình ảnh một Raul của những đường dắt bóng lắt léo điệu nghệ, chơi rất hiệu quả ở vị trí mũi nhọn, tấn công ghi bàn với kỹ thuật siêu đẳng.

    Raul cũng không hề kém cạnh nếu được xếp đá cánh, lúc ấy đồng đội sẽ nhận được nhiều đường chuyền như “dọn cỗ” của anh và chàng cầu thủ tài ba này còn làm mưa làm gió trên sân cỏ trong các đợt triển khai tấn công cực kỳ nhanh nhạy, sắc bén. Trong bóng đá, Raul là người sáng suốt, vừa sôi sục tấn công, vừa chế ngự phán đoán từng tình huống chắc ăn lợi hại. Tầm quan sát rộng và “con mắt diều hâu” săn bàn luôn lóe sáng kịp thời không bỏ sót cơ hội ghi bàn. Những bàn thắng đóng dấu Raul làm rung chuyển cầu trường, làm nức lòng người hâm mộ và làm những cổ động viên nữ thẫn thờ. Những tiếng reo hò, cổ vũ vang dội đến khản giọng của khán giả, hụt hơi bình luận viên truyền hình là những “Raul, Raul, sút… vào…”.

    “Hiện tượng mới của bóng đá TBN” lại vụt sáng với danh hiệu Pichichi (vua phá lưới) 1999 với 25 bàn thắng, bàn nào cũng đẹp lóng lánh. Và điều này làm hài lòng các cổ động viên, bằng chứng là giờ đây chiếc áo thi đấu màu trắng số 7 của Raul ở Madrid được bán cực kỳ đắt hàng tại quầy lưu niệm CLB.

    “Tôi là người của Raul, là người Madrid và người TBN”, Raul đã tự hào, sung sướng thốt lên như vậy trên ban công tòa thị chính quê hương. Bên dưới là đám đông cổ động viên, những người TBN ở Madrid rạo rực với chiếc cúp Toyota (Cúp liên lục địa) mà Raul và đồng đội đoạt được trước đối thủ Vasco da Gama của Brazil tại Nhật Bản.

    Là cầu thủ đa năng trên hàng tấn công, tất cả mọi giác quan, sức mạnh của Raul đều tập trung cao độ và sáng tạo khi thi đấu, những bàn thắng của anh không lần nào giống lần nào. Người hùng sân cỏ TBN vẫn khao khát “Tôi muốn có lúc sẽ trở thành như Pele”, nhưng với bản tính kín đáo, dè dặt, dường như hoài bão trong Raul rừng rực hơn nhiều so với những gì là quá ít ỏi anh nói với các phương tiện thông tin đại chúng.

    Bảng thành tích của Raul hiện đã dài hơn số tuổi của anh, với cả trăm bàn thắng ghi được ở Liga, anh đã trở thành bất tử ở Real bằng việc Raul được đúc tượng bằng sáp để trưng bày trong Viện bảo tàng của CLB sau trận thắng diệu kỳ trước đối thủ Aletico. Với hơn 10 triệu phiếu bầu, Raul Gonzalez đườc chọn là nhà thể thao nổi tiếng nhất Tây Ban Nha. Phần thưởng là bức điêu khắc cánh tay cầm vòng hoa hình trái tim.

    Raul, tay săn bàn bốc lửa tầm cỡ thế giới của châu Âu, trong 5 năm khoác áo tuyển quốc gia ghi 17 bàn thắng. Nhưng cũng có lần bi kịch từ chấm phạt đền đã gần như hạ gục anh. “Tôi đã khóc ngay trên sân, trong phòng thay đồ và tại khách sạn. Khi tôi thấy bóng bay qua xà ngang, cả thế giới như tan vỡ quanh mình.” Đó là bàn thua từ chấm phạt đền trong lần đá luân lưu - vòng tứ kết Euro 2000, sau khi thiên thần có thân hình mảnh khảnh hoạt động không biết mệt mỏi suốt 360 phút trên sân cỏ. Nhưng Raul với gánh nặng tâm lý trên vai nặng nề quá đỗi ấy mới thực sự là người dũng cảm cần được chia sẻ.

    Chuyện buồn rồi cũng qua đi. Kể cả câu chuyện ầm ĩ - Raul ghi bàn bằng tay trong trận R. Madrid gặp Leed trong khuôn khổ Champions League. Điều còn lại trong lòng đất nước TBN, xứ sở của thể thao với lòng dũng cảm và tràn đầy kiêu hãnh thì biểu tượng Raul vẫn là một chàng hoàng tử trẻ tuổi của những buồn vui, tột đỉnh sung sướng hay đau khổ bên trái bóng tròn.

    Hẳn nhiều người vẫn còn nhớ pha ghi bàn đẹp mắt của Raul tại vòng bán kết Champions League 2002 trong trận đấu kinh điển với đối thủ Barcelona và bàn mở tỷ số trong trận chung kết với Bayer Leverkusen. Một bàn thể hiện sức mạnh, độ chuẩn xác cao và cái chân trái điệu nghệ với cú sút xa găm thẳng vào lưới của thủ môn Bolano, Barca; một bàn thể hiện sự tinh tế, khả năng bứt phá và khéo léo lắc cổ chân đẩy bóng lăn từ từ qua mặt thủ môn H.J Butt của Leverkusen. Hai bàn thắng quyết định làm xoay chuyển cả một mùa giải của đội bóng hoàng gia Tây Ban Nha.

    Khi để cho Valencia qua mặt tại Primera Liga, điều đó có nghĩa R. Madrid sẽ hoàn toàn trắng tay tại mùa giải kỷ niệm 100 năm thành lập CLB. Tiền bạc cũng sẽ chẳng có nghĩa lý gì khi trong đội hình sở hữu đến hai cầu thủ đắt giá nhất hành tinh Figo, Zidane và hàng loạt các tên tuổi mà hễ cứ để bất kỳ ai trong số họ ra đi, Real cũng thu lại được một món tiền “kha khá” cho ngân quỹ của CLB.

    Riêng với Raul, được thi đấu trong màu áo của Real là một niềm vinh dự to lớn và đó còn là trách nhiệm nặng nề của chàng tiền đạo trụ cột của đội tuyển Tây Ban Nha.

    Người ta kỳ vọng quá nhiều vào anh, người ta vui khi anh ghi bàn, người ta buồn khi anh thi đấu mờ nhạt, người ta phẫn nộ, lo lắng mỗi khi anh bị đối phương vào bóng thô bạo… nói chung mỗi một hành động, mỗi một ứng xử của Raul cả ngoài đời lẫn trên sân cỏ đều được trở thành đề tài hấp dẫn trong mỗi một câu chuyện vào các buổi sáng tại những quán bar, trước những tách café nóng của người Tây Ban Nha tại thành phố Madrid tươi đẹp.

    Bản hợp đồng có thời hạn kéo dài tới năm 2005 với R. Madrid dường như đã nói lên được sự trung thành của Raul với CLB hoàng gia. Anh gần như đã gắn bó vĩnh viễn sự nghiệp đỉnh cao vinh quang với CLB quê hương. Đáp lại, Real Marid cũng ra điều kiện cho bất kỳ CLB nào muốn nổi máu yên hùng muốn có thiên thần hộ mệnh của họ cái giá cắt cổ là 117 triệu bảng Anh để mua đứt hợp đồng. Thu nhập của Raul hiện nay là 300.000 bảng Anh/ tháng, là một trong những cầu thủ lĩnh lương cao bậc nhất thế giới. Tuy nhiên, bóng đá hiện đại là như vậy, những tài năng thực thụ trên sân cỏ luôn xứng đáng được hưởng những thành quả mà họ đã miệt mài tạo dựng nên.

    Gánh nặng của kỳ vọng, những niềm vui hay nước mắt của các cổ động viên của xứ sở bò tót luôn đè nặng lên vai tài năng trẻ Raul Gonzalez Blanco. Sức ép thực sự lớn nhưng nó không thể thay đổi được một con người đã thực sự trưởng thành và tích lũy được quá nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, cũng như trên sân cỏ.


    Fernando Hierro - Con bò tót đầu đàn

    [IMG]
    Có thể nói con đường đi của chàng trai này luôn trải đầy hoa gấm, anh không gặp chút mảy may rủi ro nào trong sự nghiệp cũng như cuộc đời của mình.
    Sinh ra tại Valez-Malaga vào ngày 23/3/1968 với tên đầy đủ là Fernando Ruiz Hierro. Gia nhập CLB Valladolid và chơi chính thức cho CLB này trong 2 mùa bóng 87-88 và 88-89 anh đã có 58 lần ra sân và nổi lên là một hậu vệ thép, nỗi khiếp sợ của các tiền đạo khi đối mặt với anh.
    [IMG]
    Với thành tích này anh lọt vào mắt xanh của đội bóng hoàng gia Real Madrid và anh được CLB này đem về vào mùa bóng 1989-1990 , bắt đầu từ lúc này cái tên Hierro bắt đầu được chú ý nhiều hơn trước.
    [IMG]
    Mùa bóng đầu tiên ở đội bóng mới anh thi đấu khá thành công và ghi được cho RM 7 bàn thắng từ những pha lên tham gia tấn công và giúp Real Madrid vươn lên vị trí số một giải vô địch quốc gia TBN. Mùa giải tiếp theo sự vững chắc trong phòng ngự và hiệu quả trong tấn công đã làm BHL của "Những con kền kền trắng" đặt ra câu hỏi : "Liệu để anh ta đá ở vị trí hậu vệ là tốt nhất chưa nhỉ ?" , mùa bóng 1991 - 1992 anh được xếp đá ở vị trí tiền vệ phòng ngự và bằng khả năng tổ chức phòng ngự từ xa , tấn công hoàn hảo qua những cú đá phạt và những đường chuyền khéo léo , thông minh anh giúp Real giành vị trí á quân và anh ghi được cho Real 21 bàn thắng , một con số khiến các tiền đạo cũng phải mơ ước.Mùa bóng 1992-1993 anh cùng Real giữ vững vị trí thứ hai và đoạt được Cúp nhà vua Tây Ban Nha.Cứ thế , với sức mạnh và kỹ thuật vốn có anh cứ đều đều ra sân , đều đều ghi bàn .Trở lại với vị trí hậu vệ quen thuộc vào mùa bóng 1994-95 anh cùng Real có chức vô địch quốc gia TBN lần thứ hai.
    [IMG]
    Mùa bóng 1996-97 là mùa bóng anh đạt đỉnh cao của phong độ và tích luỹ được vô số kinh nghiệm , anh lại cùng Real Madrid bước lên bục nhận chức vô địch TBN .Mùa bóng kế tiếp tuy Real Madrid kết thúc với vị trí thứ 4 trong giải vô địch TBN nhưng anh cùng Real Madrid lại nhận được cúp vô địch châu âu , phần thưởng danh giá nhất mà một cầu thủ bóng đá được nhận. Qua một thời gian dài chơi bóng cống hiến cho RM, người thủ lĩnh sân Bernabeu này giã từ bóng đá đỉnh cao ở tuồi 36 và ký hợp đồng với 1 CLB của xứ sở dầu mỏ Quatar , CLB Al Rayyan.Tại đây tuy không còn đạt đỉnh cao phong độ và sức khoẻ nhưng kinh nghiệm của Hierro cũng giúp cho những trận cầu của Al Rayyan thêm phần hào hứng.Anh kết thúc sự nghiệp với 89 lần khoác áo đội tuyển và 29 bàn thắng cho "Xứ sở bó tót".
    [IMG]
    Ngày nay, anh không còn ở trong đội bóng Real Madrid nhưng các cổ động viên Real khi nhắc về anh luôn nhắc với một vẻ kính trong vì những gì anh đã làm cho đội bóng . Chắc chắn trong trang sách lịch sử về thành công của Real Madrid không thể thiếu cái tên Fernando Hierro.
    [IMG]




    ROBERTO CARLOS - CÁNH CHIM KHÔNG MỎI

    [IMG]
    - ĐT : Brazil
    - CLB : Palmeiras ( Brazil ) , Inter Milan ( Italia ) , Real ( Spain )
    - Thành tích : 2 Copa America ( 97 , 99 ) , 2 Liga ( 97 , 20001 ) , 3 C1 ( 98 , 2000 , 2002 ) , 2 siêu cúp TBN ( 98 , 2001 ) , VĐTG 2002 , 1 siêu cúp Châu Âu ( 2002 ) , 1 lần VĐ Brazil , 1 Confiderations Cup ( 97 ).
    - Vị trí : HV trái
    [IMG]
    Trong LS 100 năm của mình Real có không ít HV giỏi . Có thể kể tới tên của Quincoces , Camacho , Del Bosque , Santamaria , Sanchis ...nhưng có lẽ không ai sánh được với Carlos cho dù họ đều là những ngôi sao trong số những cầu thủ cùng thời .
    Sinh ra tại đất nước của những nghệ sĩ bóng đá nên anh có kĩ thuật thật hoàn hảo .
    Tại 1 đất nước như Brazil mọi cậu bé đều mơ trở thành tiền đạo và Carlos cũng không là 1 ngoại lệ . Trên những đường phố , con hẻm của Sao Paulo hoa lệ đều có dấu chân anh. Cả tuổi thơ anh rèn luyện kĩ năng ở đó .Cho đến giờ những cổ động viên Palmeiras vẫn chưa quên hình ảnh của chàng tiền đạo trái tài hoa này.
    [IMG]
    Cùng với Rivaldo ( nay đang chơi cho AC Milan ) anh đã góp phần mang lại cho CLB danh hiệu cao quí - VĐ Brazil . Phong độ tuyệt vời của anh đã thôi thúc ngài Massimo Moratti - CT Inter - đưa anh về với đội . Thế nhưng quãng thời gian tại Milan đã trở thành địa ngục đối với anh : anh không được thi đấu đúng vị trí sở trường , thậm chí là không được HLV tin tưởng và bị ông này cho mài đũng quần trên ghế dự bị . Đúng lúc đó Real ra tay . HLV Capello muốn có anh và Inter đã để anh ra đi như 1 phần của bản hợp đồng mua Ivan Zamorano .Một chương mới mở ra đối với Carlos.
    Tại Real anh nhanh chóng khảng định được mình . HLV tin tưởng anh và anh đã đền đáp lại sự tin tưởng ấy .Anh chơi hay đến nỗi ngài Morratti phải thú nhận rằng để anh ra đi là quyết định sai lầm lớn nhất trong đời ông.Cùng với Panucci , Hiero , Sanchis , anh là 1 phần nòng cốt của bộ tứ HV lừng danh của Real góp công lớn vào chức VĐ Liga năm 97 cũng như VĐ Champions Leage 98 của đội .Dàn tấn công cực mạnh của Barca hồi đó với Figo , Ronaldo , Stoichkov ...đã bị bộ tứ này vô hiệu hoá . Ngay cả Juventus với Zinedine Zidane và Del Piero đang ở đỉnh cao phong độ cũng chịu chung số phận. Đó có lẽ là hàng phòng ngự hay nhất trong LS Real.
    [IMG]
    Là 1 HV nhưng Carlos rất chịu khó lên tham gia tấn công . Lối chơi kĩ thuật của anh , tốc độ đáng sợ đã làm nên 1 Carlos rất riêng .Trong suốt 90 phút của trận đấu anh luôn hoạt động với cường độ đáng ngạc nhiên , theo thống kê của IFFHS ( liên đoàn thống kê thế giới ) thì trung bình 1 trận đấu anh chạy 11,3 km .Đối với Real anh đóng 1 vai trò quan trọng . Không thể nhớ rằng đã bao nhiêu lần anh chuyền bóng cho đồng đội làm bàn và tự mình ghi bàn .Chính trong trận CK Champions Leage 98 từ đường căng ngang của anh mà Mijatovic đã có cơ hội hạ thủ môn Angelo Petruzzi ghi bàn duy nhất của trận đấu mang lại chức VĐ cho Real. Những pha tỉa bóng tinh tế bằng má ngoài chân phải của anh thực sự đã trở thành mẫu mực .
    [IMG]
    Trong suốt 7 năm qua anh là cầu thủ chạy cánh trái ( left -winger ) số 1 của thế giới , vượt qua cả huyền thoại Paolo Maldini của AC. Phong độ ổn định cho phép anh chơi với trình độ cao trong suốt cả mùa bóng và anh thực sự là 1 sự bảo đảm cho Real ở cánh này.
    Đối với các đối thủ điều anh gây khiếp sợ cho họ chính là khả năng đá phạt và ghi bàn tuyệt hảo. Roberto Carlos là 1 trong những cầu thủ hiếm hoi của thế giới có thể đá phạt bằng má ngoài chân phải .Cú sút của anh thường đi theo 1 quỹ đạo không thể tưởng tượng được và rất mạnh .Trong vô số những bàn thắng anh ghi được có 2 bàn rất đáng nhớ .Bàn thắng ghi vào lưới Tenerife ở mùa bóng 98- 99 đã đạt đến sự hoàn mỹ : anh lừa qua HV đối phương , khống chế bóng trên không khi đang chạy với tốc độ cao và sút từ 1 góc chỉ cách đường biên ngang có vài cm.
    [IMG]
    Bàn thắng ghi vào lưới ĐT Pháp tại Tour de France 97 " là 1 sự phi thường "( lời của kênh truyền hình Stade 3 ).Roberto Carlos đã đá phạt vào lưới thủ môn tài ba Fabien Bathez từcự li 35 m : cú đá của anh vẽ 1 đường vòng cung với đường kính hơn 9 m trước khi vào lưới . Nó vượt xa những tính toán vật lí thông thường và ngay cả cái gọi là Banana kick ( cú đá phạt hình quả chuối ).Bàn thắng này được đưa vào sách giáo khoa bóng đá.
    Là 1 ngôi sao không chỉ của Real mà của cả thế giới nhưng Roberto Carlos là 1 người khiêm nhường .Sau mỗi buổi tập anh thường ở lại kí tặng các fans và tập thêm . Không đẹp trai như người đồng đội Raul nhưng trong trái tim các Madridistas anh thực sự là 1 thần tượng .Khi mới tới Real anh trả lời phỏng vấn rằng Real đã cứu rỗi sự nghiệp của anh nhưng thực ra Real đã phải mang ơn anh rất nhiều vì những cống hiến của anh trong những năm qua .Anh đã chinh phục cả thế giới bằng tài năng không phải bàn cãi của mình . Hãy hỏi người đồng đội Figo và ngôi sao David Beckham của MU thì biết điều đó .
    [IMG]
    Là 1 HV nhưng anh có lối chơi rất hiền lành .Trong bất cứ trận đấu nào dù quan trọng hay không anh đều ''chơi bóng'' chứ không '' đá bóng ". Tôn chỉ của anh là " ra sân để mang lại niềm vui cho khán giả bằng những màn trình diễn ". Trong thời đại của bóng đá thực dụng ngày nay điều đó thật đáng quý



    Iker Casilas – Hãy gọi anh là THÁNH

    [IMG]
    [IMG]
    Casillas trưởng thành từ lò đào tạo của Real Madrid. Năm lên 9 tuổi, tài năng của anh đã được các tuyển trạch viên của Real "khai quật". Và tới mùa giải 1998/99, thủ thành người Tây Ban Nha này đã được lên chơi cho đội hình một. Nhanh nhẹn, dũng cảm và quyết đoán, đó là những tố chất giúp Casillas trở thành một trong những thủ môn xuất sắc nhất thế giới hiện nay. Năm 2000, anh ghi tên mình vào lịch sử giải đấu danh giá nhất châu Âu sau khi trở thành thủ môn trẻ nhất được thi đấu tại Champions League khi mới 19 tuổi 4 ngày.
    [IMG]
    [IMG]

    Ở tuổi 27, Casillas đã sánh ngang với thủ thành vang lừng một thời Paco Buyo về số lần khoác áo Real Madrid. "Tôi hoàn toàn không biết về số lần ra sân của mình ở Real Madrid cho đến khi các nhà báo nói với tôi cách đây hai tháng. Thật là vinh dự khi có cùng thành tích với thủ thành Paco Buyo huyền thoại, một thần tượng của các thủ môn. Đây là điều mà tôi chưa từng một lần dám nghĩ tới", Casillas hân hoan chia sẻ với báo giới.
    [IMG]
    [IMG]
    Sự nghiệp của thành thành 27 tuổi này còn rất dài và anh đang hướng đến những kỷ lục khác. Hiện anh đang đứng ở vị trí thứ 5 trong danh sách những cầu thủ thi đấu nhiều trận nhất cho Los Blancos sau Manolo Sanchis (712), Raul (684), Carlos Santillana (643), Paco Gento (605) và Fernando Hierro (601).
    [IMG]
    [IMG]
    [IMG]

    Vincente Del Bosque : Điếu Xì Gà Không Bao Giờ Tắt

    [IMG]

    * Vài nét về Vincente Del Bosque
    Quốc Tịch : TBN
    Đến Real : 1999
    Dẫn dắt Real trong : 3 năm 7 tháng .
    Thành tích : 2 cúp C1 , 2 Chức VĐ La Liga , 1 Siêu cúp TBN , 1 Cúp LLĐ, 1 siêu cúp Châu Âu

    * Huấn Luyện Viên Vĩ Đại Trong lịch Sử RealMadrid

    - Nếu có ai đó hỏi tôi Ai là huấn luyện viên thành công nhất của Real trong vòng 2 thập kỉ đã qua ? Chắc chắn đó là Del Bosque , HLV có gương mặt rất bình thản , từng trải và đầy sức chịu đựng . Trong vòng gần 4 năm dẫn dắt Galaticos , ông đã mang về cho Real 2 chức vô địch La Liga , 1 Siêu cúp TBN , 2 cúp C1 , 1 siêu cúp châu âu và 1 cúp liên lục địa . Ông cũng chính là HLV tại vị tại Real lâu nhất trong 2 thập kỉ qua . Với những thành tích đã đạt được cùng Real , ông hoàn toàn xứng đáng là 1 trong những HLV huyền thoại nhất trong lịch sử hơn 100 năm tồn tại của CLB Hoàng gia TBN.

    - Trở lại quá khứ , năm 1994 , ông cũng từng được bổ nhiệm làm HLV của câu lạc bộ thay thế HLV tiền nhiệm Floro. Nhưng ông chẳng làm được gì nhiều và sau 3 tháng làm HLV câu lạc bộ , ông bị sa thải . Đấy là quãng thời gian không thành công của vị HLV đáng kính này . Nhưng cũng chính 3 tháng ngắn ngủi kết duyên cùng CLB , ông đã hiểu ra rằng để ngồi lâu hơn trên chiếc ghế HLV tại một CLB nổi tiếng như Real thì cần phải dành được các danh hiệu . Và ông đã chuẩn bị cho 1 cuộc trở về đầy thành công sau này và cùng với Real dành được tổng cộng 7 chiếc cúp trong vòng 3 năm 7 tháng , từ năm 1999 đến năm 2003 .

    ** Một HLV không khoa trương

    - Năm 1999 , Del Bosque được vị chủ tịch bấy giờ là L. Sanz mời quay trở lại chiếc ghế HLV nhằm vực dậy đội bóng sau 2 năm chơi không thành công và giúp CLB dành các danh hiệu . Và ông đã không phụ lòng mong mỏi đối với các cổ động viên . Trong thời gian trị vì của mình , ông đã xây dựng cho Galaticos một lối chơi phóng khoáng , hoa mĩ và đầy tham vọng . Lối chơi của Real lúc đó cuốn hút tất cả mọi người xem và cũng chính vì vậy , bộ sưu tập các danh hiệu của kền kền trắng đã dày lên rất nhiều .

    - Ông cũng là HLV trầm tình và ít nói . Không thích gây gổ và biết lắng nghe , vì vậy ông được lòng cả L.Sanz lẫn vị chủ tịch đương thời của Real là Perez . Nhưng cũng chính vì điểm này mà ông không thể quản lí được các ngôi sao thích làm mình làm mẩy trong dải thiên hà Galaticos và chu kì thành công của ông cũng bắt đầu đi xuống . Đối với vị chủ tịch đầy tham vọng như Perez , không danh hiệu đồng nghĩa với việc ra đi . Và với chính sách " Zidan and Pavon " đã phá huỷ dần lối chơi mà ông dày công xây dựng khi mà đội hình Real không được đồng đều . Và ông phải ra đi , nhưng trước khi chia tay Real , ông cũng kịp mang về danh hiệu VĐ Cúp C1 năm 2002 sau khi dành chiến thắng 2 -1 trước đội bóng đến từ nước Đức : Bayer Levekusen . Qua đó ,đưa Real trở thành CLB đầu tiên dành 9 danh hiệu tại đấu trường danh giá nhất Châu âu .

    - Nhìn chung, Del Bosque, một cựu tiền vệ phòng ngự từng chơi cho một CLB dành 9 chức vô địch và 18 lần khoác áo ĐT TBN, trong những ngày còn chơi bóng ở Bernabeu, là một người khá nổi tiếng. Nhưng phương pháp huấn luyện của ông giống hệt như cách mà ông chơi bóng, tránh những trận đấu khoa trương ồn ào, làm hết sức mình để duy trì chiến thắng ở mức độ bình thường và như tiền vệ Guti từng nhận xét “không đối xử với các cầu thủ như những cậu học trò cấp ba”.

    - Ông là người có đủ tư cách hơn ai hết để đưa ra nhận xét về những thách thức mà tân HLV Real, Manuel Pellegrini, sẽ gặp phải khi ông bước vào sân tập có mặt Kaka, Cristiano Ronaldo và biết bao tinh tú khác của giải ngân hà đang được xây dựng. “Trên nhiều khía cạnh, làm HLV ở Real Madrid không hề dễ dàng”, Del Bosque nói, “Đó là một sự thật chẳng có gì mới mẻ: không thể xây dựng một đội bóng lớn với những cầu thủ, nhưng nếu không có tính tổ chức, bạn còn thất bại nhanh hơn dù cho có những cầu thủ lớn”.

    - Điều đó đang được áp dụng cho ĐT TBN bất bại mà ông dẫn dắt bây giờ. Đội bóng tuyệt vời do người tiền nhiệm Luis Aragones để lại sau chiến thắng thuyết phục ở EURO 2008, luôn dành sự ủng hộ cho Del Bosque khi ông xỏ vào đôi giày không dễ đi chút nào: thừa kế một nhà vô địch. “Không vấn đề gì hết”, Del Bosque khẳng định, “Họ đều là những người tốt”. Trong buổi tập đầu tiên, Del Bosque bước ra sân và nói: “Các cậu, tôi sẽ không thay đổi gì hết”. Thay vào đó, ông dành thời gian để cảnh báo các cầu thủ về sự tự mãn: “Chúng tôi không thể nghĩ rằng chúng ta là những siêu sao vì còn có những đối thủ rất mạnh. Những lời ca ngợi có thể khiến chúng ta yếu ớt đi. Nhưng tôi tin ở sự thông minh của các cầu thủ, những người đã vượt qua rất nhiều rào cản về tâm lý”.

    [IMG]


    [IMG]
    Kỷ nguyên Galácticos I

    Các cụm từ “Pérez”, “Galácticos II”… đang là tiêu điểm của bóng đá thế giới những ngày qua. Chúng ta hãy cùng nhau lùi về quá khứ không xa để nhìn lại một chút về thế hệ “Galácticos I” (tạm gọi như thế), từ lúc khởi đầu đến khi kết thúc kỷ nguyên này.

    Kỷ nguyên Galácticos (siêu sao – theo định nghĩa của wikipedia) bắt đầu khi Chủ tịch Florentino Pérez đưa ra chính sách chiêu mộ mỗi mùa bóng một cầu thủ hàng đầu thế giới với bất kể giá nào. Để thực hiện được điều đó, Pérez hiểu rằng trước tiên Real Madrid phải có một nền tài chính vững mạnh. Ông đã làm tất cả để biến Los Blancos trở thành đội bóng giàu có nhất thế giới và sau đó làm thỏa mãn mong ước của các fans về một Dream Team Madrid. Đó là một đội bóng tập hợp của những cầu thủ không phải ngôi sao, mà là siêu sao, siêu cầu thủ… Họ chính là Galácticos.
    [IMG]
    Pérez đã thực hiện đúng lời cam kết, biến Real Madrid thành một Dải thiên hà của các siêu sao tấn công – những cầu thủ xuất chúng nhất, tên tuổi nhất. Điều này không những giúp The Whites khuyếch trương tên tuổi mà còn khiến cho câu lạc bộ Hoàng Gia trở thành đội bóng có lối chơi hoa mỹ - vị nghệ thuật bậc nhất thế giới.

    Bóng đá không chỉ đơn thuần là bảo vệ tỉ số, hạn chế bàn thua hay chiến thuật chặt chẽ, Pérez nghĩ thế. Chủ tịch Real Madrid cho rằng đội bóng của ông không cần những điều đó. Với ông, Real Madrid đồng nghĩa với tấn công, tấn công và tấn công. Có nghĩa là nếu bạn chỉ có được hai bàn, chúng tôi sẽ sút tung lưới bạn 5 bàn !
    Đó cũng là thời điểm mà tất cả các Madridista đều mong chờ mỗi trận đấu của đội bóng con cưng, đơn giản là vì phong cách chơi của Real Madrid: lôi cuốn, đẹp mắt, hấp dẫn, bốc lửa… cũng như những ai đã từng “bị mê hoặc” bởi vũ điệu Flamenco ! Los Merengues luôn thi đấu với năm cầu thủ luôn hướng về phía cầu môn đối thủ và chỉ để lại một “máy quét” chuyên làm nhiệm vụ phòng ngự từ xa.

    Các fans kéo đến chật cứng sân vận động để xem, chính xác là thưởng thức, đội bóng thân yêu thi đấu và họ đã có gần hai giờ đồng hồ “no mắt” với những màn trình diễn kỳ ảo của Galácticos, để rồi trở về nhà với niềm vui cùng những giấc mơ đẹp về Real Madrid.
    [IMG]
    Madrid, điểm đến của các siêu sao

    * Luís Figo (38.7 triệu bảng từ FC Barcelona) - đến năm2000
    * Zinedine Zidane (44 triệu bảng từ Juventus) - đến năm2001
    * Ronaldo (26m triệu bảng từ Inter Milan) - đến năm 2002
    * David Beckham (25m triệu bảng từ Manchester United) - đến năm 2003
    * Michael Owen (8m triệu bảng (cộng với Antonio Núñez) từLiverpool F.C.) - đến năm 2004. Nhiều ý kiến cho rằng Owen chưa thể là galáctico, nhưng với Ballon d’Or đoạt được năm 2001, Owen cũng có thể được coi là một siêu sao – ít nhất là với Pérez.
    * Baptista (13 triệu bảng từ Sevilla) và Robinho (15 triệu bảng từ Santos) – đến năm 2005.
    * Cassano (3 triệu bảng từ Roma) – đến năm 2006

    Những Galácticos đã có sẵn trong đội hình Real Madrid thời đó:

    * Raúl González (Chúa Nhẫn)
    * Fernando Hierro
    * Iker Casillas (Các fans còn gọi anh là Thánh)
    * Roberto Carlos da Silva

    Galácticos – hãy nói một cái tên mơ ước, bạn sẽ thấy họ ở Madrid

    Pérez quyết định theo đuổi chính sách “Zidanes y Pavons”, đồng nghĩa với việc Real Madrid sẽ chiêu mộ tất cả những ngôi sao sáng nhất thế giới bóng đá song song với việc giới thiệu những cầu thủ trẻ trưởng thành từ Học viện của câu lạc bộ (đáng tiếc là điều này đã không mang lại hiệu quả). Những gì câu lạc bộ Hoàng Gia thu được cũng rất xứng đáng: 2 chức vô địch Liga và 1 Champions League (với cả Zidane và Figo trong đội hình) và những giải thưởng cá nhân cho Ronaldo.
    [IMG]
    Dưới kỷ nguyên Galácticos, uy tín và tầm ảnh hưởng của Chủ tịch Pérez mạnh đến mức tất cả các đội bóng lớn của thế giới đều lo ngại mất các siêu sao của họ. Mỗi khi Pérez đã “nhắm” đến mục tiêu nào, thì chẳng bao lâu sau người ta sẽ thấy họ ở Madrid. Hãy hỏi kình địch Barça về điều này. Figo – ngôi sao sáng nhất Camp Nou năm 2000 – đã cập bến Santiago Bernabéu ngay khi Pérez ngồi vào chiếc ghế Chủ tịch. Để thực hiện phi vụ tưởng như “bất khả thi” này, Chủ tịch Pérez đã phải lót tay cho ngôi sao Bồ Đào Nha này một khoản kha khá (khoảng 6,5 triệu Euro) và một mức lương hậu hĩnh. Đổi lại Figo sẽ phải bồi thường số tiền khổng lồ 30 triệu Euro cho Real Madrid nếu anh không giữ đúng cam kết gia nhập Los Blancos (theo tiết lộ của Jose Veiga - người đại diện cũ của siêu sao bóng đá Bồ Đào Nha). Figo cũng chính là “viên gạch đầu tiên” để Pérez xây dựng Kỷ nguyên Galácticos I.
    [IMG]
    Zizou như một “vũ công ballet” trên sân cỏ và thường ghi những bàn thắng đẹp không tưởng. Đội trưởng Raúl luôn làm nổ tung cầu trường bằng những pha lập công đẳng cấp mà tinh tế. Ronaldo thì tận dụng mọi cơ hội để ghi bàn – tiền đạo người Brazil sẵn sàng “đánh bại” cả một đội bóng nếu cần thiết. Figo là tiền vệ cánh hàng đầu thế giới và sở hữu kỹ thuật cá nhân siêu đẳng. Roberto Carlos thường xuyên có những pha “nã đại bác” từ khoảng 30-40m và không nhiều thủ môn có thể cản phá. Họ còn có một Hierro hào hoa mà chắc chắn và còn là một trung vệ “thích” ghi bàn. Chỉ có vai trò của Makélélé là thầm lặng, nhưng tầm quan trọng của tiền vệ phòng ngự người Pháp là không thể phủ nhận.

    Tất cả các siêu sao tấn công của Real Madrid đều muốn ghi bàn, đánh bại đối thủ bằng những pha bật tường một chạm, những đường đan bóng kỳ ảo. Phong cách tấn công như vũ bão của câu lạc bộ Hoàng Gia khiến các trận đấu của họ thường tràn ngập bàn thắng và thủng lưới cũng nhiều.
    [IMG]
    Với những ngôi sao thượng thặng như Zidane và Figo trong đội hình, dễ hiểu vì sao Los Galácticos luôn có nhiều cơ hội ghi bàn hơn đối thủ. Sự xuất hiện của Beckham sau đó giúp các pha tạt bóng cũng như sút phạt của Los Merengues trở nên biến hóa hơn và lượng khán giả cũng kéo đến sân nhiều hơn (Becks cũng là một siêu sao marketing).


    Vai trò của Makélélé và Del Bosque

    Tuy nhiên, quá nhiều cái tôi đã trỗi dậy trong phòng thay đồ. Vicente Del Bosque, huấn luyện viên Real Madrid khi đó, đã có thể kiểm soát được phần nào tình hình nhưng vì lý do chiến thuật nên đôi khi ông phải xếp một vài tên tuổi lớn lên ghế dự bị. Những cầu thủ như Zidane hay Figo, tất nhiên, không bao giờ hài lòng khi phải ngồi dự bị. Điều này thật khó khăn cho huấn luyện viên. Giống như Maradona đã từng nói: “bạn không thể vừa là một siêu sao, vừa là một thánh nhân”. Còn Chủ tịch Pérez vẫn miệt mài với chính sách tuyển mộ siêu sao tấn công của mình mà lơ là hàng phòng ngự. Real Madrid có Becks năm 2003 nhưng lại để mất “chàng vẩu” Ronaldinho vào tay kình địch Barça (một phần lý do là vì ngoại hình của Becks “sáng sủa” hơn !). Vị trí tiền vệ phòng ngự của Makélélé cũng không được Pérez xem trọng và cuối cùng “máy ủi” người Pháp đã ra đi theo tiếng gọi của những đồng rúp ở London.
    [IMG]
    Becks chuyển đến nhưng Makélélé cũng phải ra đi. Đến lúc này Pérez mới hiểu rằng ông đã đánh mất một trong những tiền vệ phòng ngự hay nhất thế giới thời điểm đó. Sự cống hiến thầm lặng của tiền vệ phòng ngự người Pháp đóng vai trò quan trọng trong lối chơi “siêu tấn công” của Real Madrid và sau này có hẳn một thuật ngữ: “Makélélé mới” để nói về cầu thủ xuất sắc ở vị trí tiền vệ phòng ngự.
    [IMG]
    Lúc này dưới sức ép của các Madridistas, Pérez buộc phải “chữa cháy” bằng các bản hợp đồng với các cầu thủ Walter Samuel, Thomas Gravesen, Cicinho, Carlos Diogo và Pablo García. Họ đã từng là những ngôi sao (Walter Samuel, Woodgate) hay đầy tiềm năng (Cicinho, Carlos Diogo) trong lĩnh vực phòng ngự, tuy vậy tất cả dường như đã đánh mất mình khi chuyển đến Santiago Bernabéu. Bên cạnh đó, Pérez vẫn kiên trì theo đuổi chính sách “Zidanes y Pavons” bằng cách mang về những cầu thủ tấn công siêu hạng khác là Owen, Cassano và bộ đôi Brazil Baptista - Robinho.
    [IMG]
    Đoạn kết buồn cho Kỷ nguyên Galácticos I đến khi Chủ tịch Pérez không muốn tiếp tục hợp tác với Del Bosque và Hierro –người đầu tiên là vị “kiến trúc sư” tài ba, người còn lại là một công thần của đội bóng – chỉ ít giờ sau khi Real Madrid giành chức vô địch Liga thứ 29.

    Những trụ cột lần lượt ra đi và vinh quang cũng rời bỏ Los Galácticos. David Beckham và Robinho – những Galácticoscuối cùng cũng đã nói lời tạm biệt. Và Kỷ nguyên Galácticos I chính thức kết thúc khi Chủ tịch Pérez từ chức ngày 27 tháng 2 năm 2006.

    Nhưng mọi chuyện vẫn chưa kết thúc, bởi cựu Chủ tịch Pérez đã đắc cử...
    [IMG]

    Thành công và thất bại của kỷ nguyên Galácticos

    Thành công:
    - Biến Madrid thành điểm đến của các siêu sao đồng thời là đội bóng tấn công với lối chơi hào hoa và quyến rũ nhất thế giới.
    - Mang về chiếc Cúp Champions League thứ 9 trong lịch sử (năm 2002) cùng hai chức vô địch La Liga (năm 2001, 2003).
    - Đưa Real Madrid vượt lên trên Manchester United (đội bóng giàu nhất thế giới những năm trước đó) ở lĩnh vực tài chính.

    Thất bại:
    Đẩy đi Makélélé, chấm dứt hợp đồng với Del Bosque và Hierro, khiến câu lạc bộ Hoàng Gia sa sút trong một thời gian dài (3 mùa bóng).



    [IMG]
    Jose Mourinho - Special ONE
    Mourinho, 'đứa trẻ' trên ghế huấn luyện

    [IMG]
    Mới 24 đã chập chững bước vào nghề huấn luyện, và trở thành một HLV đích thực khi tròn 37 tuổi, con đường mà Jose Mourinho khổ luyện dần đơm trái ngọt. Người ta gọi Jose là "đứa trẻ" trên ghế huấn luyện, bởi gương mặt "búng ra sữa" của con người đặc biệt này, và vì một lý do khác: cảm xúc mà Jose thể hiện bên ngoài đường biên.

    Benfica, nơi đặt mốc cho "Treinador" Mourinho

    4 năm ở Nou Camp có tác động cực lớn đến sự nghiệp của Jose Mourinho. Bên cạnh cơ hội làm việc với những HLV danh tiếng, được tiếp thu những triết lý tiên tiến và khoa học, La Liga còn là môi trường vượt xa nền bóng đá Bồ Đào Nha.

    Khi Louis van Gaal rời Nou Camp cũng là lúc Jose khép lại thời gian "tầm sư học đạo". Lisbon mở rộng vòng tay chào đón đứa con trở về, và Jose quyết định chọn Estadio da Luz.
    [IMG]
    Lúc này, Benfica được dẫn dắt bởi Jupp Heynckes, chiến lược gia người Đức. Bước ngoặt diễn ra sau vòng 4 Portuguese Liga. Dù thắng 2 và hòa 1, nhưng Heynckes vẫn bị sa thải để nhường chỗ cho Mourinho.

    Cuộc đời Jose chính thức sang trang mới. Từ một "Tradutor" (phiên dịch viên), Jose trở thành một "Treinador" (HLV), và càng tự hào hơn khi dẫn dắt một trong những CLB vĩ đại nhất của bóng đá BĐN, nơi mà Eusebio từng đi vào huyền thoại.

    Ngay hôm sau, tờ O Jogo (thân Porto) chạy dòng title: "Lạy Chúa, họ đã chọn một đứa trẻ". Trong khi đó, nhật báo thể thao A Bola có trụ sở tại Lisbon (thân Benfica) thì nhẹ nhàng hơn: "Chúng ta đang chơi một canh bạc".

    Ngày 23/9/2000, Mourinho chính thức ra mắt trên cương vị mới. Hôm ấy, Benfica đã chơi không tệ, nhưng vẫn phải chấp nhận thất bại 0-1 trước chủ nhà Boavista, đội cuối mùa lên ngôi VĐ. Một tuần sau, Benfica hòa 2-2 trên sân nhà trước Braga, trong trận đấu mà họ bị dẫn trước.
    Phải đến trận thứ 3 thì Mourinho mới biết đến chiến thắng, khi Benfica vượt qua đội khách Belenenses. Tuy nhiên, số phận như trêu ngươi những người biết cố gắng và đầy nhiệt huyết. Quãng thời gian ngọt ngào của Mourinho với "Những chú đại bàng" kéo dài rất ngắn, và ông ra đi chỉ sau 9 trận cầm quân.

    "Đứa trẻ" trên ghế huấn luyện

    Jose Mourinho đã tương đối thành công với Benfica, và ông có thể ra đi trong thế ngẩng cao đầu. Trong 9 trận, Benfica đã chơi một thứ bóng đá hiện đại, tạo nên một cá tính riêng so với những mùa giải trước đó.

    Hơn nữa, việc Mourinho ra đi xuất phát từ cuộc thay đổi "nội các" chứ không phải chuyên môn. Lúc này, ở sân Da Luz diễn ra cuộc trao đổi quyền lực, khi Manuel Vilarinho thay Joao Vale e Azevedo làm Chủ tịch. Và Vilarinho đã quyết định "tống" Jose.

    [IMG]
    Thực tế, khi Mourinho ra đi, Benfica chơi tệ hơn dưới sự dẫn dắt của Antonio Oliveira (Toni). Chủ tịch Vilarinho vốn cho rằng mang về hậu vệ huyền thoại Toni sẽ giúp Benfica thành công và ông được lòng CĐV. Nhưng thực tế diễn ra ngược lại, bởi Jose lúc này đã chiếm trọn tình cảm của người hâm mộ Benfica. Sau này, Vilarinho có ý mời Mourinho trở lại, nhưng ông chỉ lắc đầu.

    Một dấu ấn quan trọng giúp Mourinho được các CĐV ở Da Luz yêu mến là cá tính và những cảm xúc ông thể hiện. Trong trận tiếp Belenenses, khi Carlos Marchena ghi bàn duy nhất ở phút 34, Mourinho chạy đến sát khu vực dành cho CĐV Benfica và nhảy cẫng lên ăn mừng, như chính ông là tác giả bàn thắng.

    Rui Jordao, huyền thoại và là CĐV trung thành của Benfica, hồi tưởng: "Hôm ấy là ngày 3/12 (2000), Da Luz chật cứng với 5 hoặc 6 vạn người. Chúng tôi dẫn 2 bàn trước Sporting, Jose vẫn ngồi im như chẳng có gì xảy ra. Khi Joao Tomas ghi bàn thứ 3, đang bất động, Jose bỗng bật dậy và bắt nhịp cho chúng tôi hát. Jose cũng hát và nhảy lên vui sướng.

    Chúng tôi đã thắng trong trận derby, dù Sporting mạnh hơn. Chúng tôi nán lại sân hơn nửa tiếng để chia vui với Jose và các cầu thủ. Chỉ tiếc, đó cũng là trận cuối cùng của Jose với Benfica, bởi tay Chủ tịch đáng ghét. Hình ảnh của Jose khiến chúng tôi như trẻ ra, và tôi cảm nhận cậu ấy như một đứa bé vừa được nhận quà".

    Như để tri ân Jose, cũng là mừng trận derby, O Bola đã viết: "Chúng ta vẫn là anh của họ (Sporting). Rất tiếc, những cảm xúc như con trẻ mà Jose thể hiện sẽ không xuất hiện ở đây nữa. Quả thực, Jose là một đứa trẻ trên ghế huấn luyện, nhưng sẽ sớm thành một HLV tài ba".

    Rời Benfica, Mourinho cập bến Uniao de Leiria chỉ một tháng sau đó. Cũng giống như ở Da Luz, sân Magalhaes Pessoa liên tục được chứng kiến những cảm xúc tột bậc của Mourinho, và ông trở thành thần tượng mới của các CĐV nơi đây.

    Kết thúc mùa giải 2000/01, Jose giúp đội bóng tỉnh lẻ chỉ lo tụ hạng như Uniao de Leiria có vị trí cao nhất trong lịch sử, khi xếp thứ 5 Portuguese Liga. Một lần nữa Jose được gọi là "đứa trẻ", với những hình ảnh ăn mừng đầy xúc động khi đánh bại Porto 3-1, hòa Boavista 0-0, hay khuất phục Sporting 2-0.

    Sau 2 năm cực kỳ thành công ở Uniao de Leiria (mùa 2001/02 xếp hạng 7), "đứa trẻ" ấy đến Porto, chuẩn bị cho bước ngoặt lớn nhất cuộc đời...
    [IMG]
    Từ Gã phiên dịch đến 'Special One'
    [IMG]
    Rời Leiria, Jose Mourinho đến thành phố cảng Porto cho sự khởi đầu mới, một cuộc chinh phục các danh hiệu. Từ gã phiên dịch (hiện nay, nhiều người vẫn gọi Mourinho là "Tradutor", tức phiên dịch viên), Mourinho trở thành một nhà VĐ châu Âu thực thụ, và cả thế giới biết đến qua cái tên rất kêu: "The Special One"!

    Porto, nơi huyền thoại bắt đầu

    Suốt 3 năm liên tiếp gây thất vọng, Pinto da Costa mất kiên nhẫn với đội ngũ huấn luyện của Porto. Thất bại nối dài thất bại, trong đó có việc bị loại từ vòng bảng thứ 2 Champions League 2001/02, vị Chủ tịch của Porto quyết định sa thải HLV Octavio Machado.

    Hôm ấy là một ngày tháng Giêng 2002, Pinto da Costa nhấc điện thoại gọi cho người đồng nghiệp bên phía Uniao de Leiria. Một cuộc trao đổi ngắn giữa hai vị Chủ tịch, và mức bồi thường hợp đồng được thông qua một cách bí mật.

    Một ngày sau, người ta thấy Jose Mourinho xách vali từ Leiria, miền Trung Bồ Đào Nha, đến thành phố cảng Porto. Lúc đầu, Mourinho định đi tàu điện để giảm chi phí, nhưng sau đó nhận được điện từ Pinto da Costa: "Sẽ có người đón anh. Tôi cần anh có mặt ở đây sớm".

    Không hề nghỉ ngơi, Chủ tịch Pinto da Costa đưa Mourinho đến trung tâm huấn luyện thể thao Porto Gaia. Các cầu thủ nhìn Jose một cách tò mò, trong khi vị Chủ tịch huyền thoại của Porto tuyên bố: "Từ hôm nay, người này sẽ chỉ huy các cậu. Tôi muốn thấy chiến thắng".

    Đúng 3 ngày sau khi đặt chân đến Porto Gaia, Mourinho có được chiến thắng ngay trong trận ra mắt, trước Maritimo. Chuỗi trận chiến thắng ấy kéo dài đến con số 4 (Varzim, Benfica và Setubal).

    Ngày 23/2/2002, Porto bất ngờ phơi áo 2-3 trước Beira Mar, và đây cũng là lần cuối cùng một CLB mà Mourinho dẫn dắt thua sân nhà ở giải VĐQG, cho đến tận ngày hôm nay !

    Kết thúc mùa giải 2001/02 ấy, Mourinho đưa Porto lên vị trí thứ 3, một kết quả đủ để làm hài lòng Pinto da Costa. Một quyết định được Pinto da Costa phê duyệt ngay sau đó: Mourinho được quyền quyết định mọi vấn đề mua bán trong mùa Hè 2002, đổi lại Porto phải có ít nhất một danh hiệu.
    [IMG]
    Từ gã phiên dịch đến "Người đặc biệt"

    Được Chủ tịch Pinto da Costa tin tưởng (nhưng điều đó khiến vai trò của một số quan chức bị ảnh hưởng nghiêm trọng), Jose tuyên bố hết sức tự tin, "mùa giải mới sẽ là của chúng ta. Tôi không thích nói khoác, nhưng ai không tin thì cứ chờ xem. Tôi lấy ghế mình ra cược".
    Ngay lập tức, Jose thân chinh trở lại Leiria, không phải để làm công tác huấn luyện, mà đặt câu hỏi với Derlei. "Cậu muốn theo tôi không? Tôi đang xây dựng một đội bóng chiến thắng, và nghĩ đến cậu, có thể trả lời sau cũng được". Chẳng đợi lâu, Derlei tuyên bố ngắn gọn: "Tôi chấp nhận!".

    Tiếp theo, Mourinho về quê hương Setubal để ký hợp đồng với hậu vệ cánh Paulo Ferreira, đồng thời cuỗm học trò cũ Maniche từ Benfica. Trước đó, những cái tên này không gây được nhiều chú ý, nhưng Mourinho cho rằng, họ sẽ sớm trở thành huyền thoại. Các tuyến của Porto xem như đã hoàn hảo (trong mắt Mou).

    Kết quả của mùa giải 2002/03 đã nói lên tất cả. Cùng với những nhân tố mới, đồng thời giúp Deco, Carvalho, Costinha bùng nổ ấn tượng, Mourinho đưa Porto giành cú ăn ba trong mùa giải, vượt qua sự kỳ vọng của Chủ tịch Pinto da Costa: chức VĐ BĐN, Taca de Portugal (Cúp QG BĐN), và UEFA Cup.

    Mặc dù thua Milan ở Siêu Cúp châu Âu, nhưng trước đó Jose đã cùng Porto khởi đầu mùa giải 2003/04 bằng danh hiệu Siêu Cúp BĐN. Chiến công này khởi đầu cho một dấu ấn mới: VĐ BĐN lần thứ 2 liên tiếp, và đặc biệt là trở thành quán quân Champions League.

    Trên con đường chinh phục Champions League 2003/04, không ai có thể quên hình ảnh Mourinho nhảy cẫng như một đứa trẻ, chạy khắp "Nhà hát của những giấc mơ" để ăn mừng cú sút phạt thần sâu của Costinha ở phút 90. Lúc đó, Sir Alex Ferguson đang chết lặng, và Porto giành vé vào tứ kết ngay trên tay M.U.

    Lần lượt Lyon và Deportivo được loại bỏ, trước khi sân Arena AufSchalke (Đức) chứng kiến những cảm xúc "không giống ai" của Mourinho, với chiến thắng thuyết phục 3-0 trước Monaco. Từ một gã phiên dịch, Mourinho đi lên bằng tài năng và nghị lực, để rồi đạt đến đỉnh cao danh vọng.


    Nước Anh vẫy gọi Mourinho. Rất nhanh, bằng cá tính, Jose khiến truyền thông Anh (và thế giới) chia làm 2 phe rõ rệt: hoặc ủng hộ, hoặc ghét bỏ ông (vì sự kiêu ngạo và những tuyên bố thẳng thắn), chứ không có chuyện "nửa vời". Trên phương diện chuyên môn, Mourinho biến Chelsea thành thế lực thực sự của Premier League.

    Ở đất nước sương mù, Jose trở thành "Người đặc biệt" (chính ông tự nhận mình như thế). Đặc biệt vì cá tính, cách ứng xử, cảm xúc, và những chiến thắng trên sân cỏ. Không ai nổi bật hơn Jose, và cũng chẳng ai dám khẳng định mình giỏi hơn ông (tất nhiên, trừ những người muốn được nổi tiếng).

    Cuộc phiêu lưu mới hướng đến Italia. Gã phiên dịch ngày nào trở thành HLV được hưởng lương cao nhất thế giới. Sau 2 năm, ông đã biến Inter thành đội bóng vĩ đại, thể hiện cá tính của chính ông, với Scudetto thứ 5 liên tiếp, cùng cú ăn ba mà lịch sử bóng đá Italia chưa từng có tiền lệ.

    Không ai xem Mourinho là phiên dịch nữa (dù đôi lúc, họ vẫn gọi vui như thế), cũng không mấy người xem ông là HLV bình thường, mà là thiên sứ của chiến thắng. Sau Porto, Chelsea và Inter, Santiago Bernabeu đang vẫy gọi Mou. Thêm một cuộc phiêu lưu nữa, để hoàn tất danh hiệu ở 3 giải đấu lớn nhất châu Âu?

    [IMG]
    Mourinho đến Real: Hiệu ứng domino và cả châu Âu đang run sợ!

    “Người đặc biệt” đã chính thức trở thành HLV của đội bóng vĩ đại nhất thế kỷ 20 Real Madrid, và với những gì đang diễn ra thì điều đó làm khối kẻ đang lo ngay ngáy vị sự kết hợp được coi là hoàn hảo giữa chiến lược gia tài năng nhất thế giới hiện nay và đội bóng mà bất cứ cầu thủ nào cũng mơ ước được khoác áo.


    Chuyện sẽ không có gì nếu đó chỉ là sự kết hợp giữa Real và Mourinho, nhưng chắc chắn kèm theo bản hợp đồng được coi là nóng nhất mùa hè năm nay sẽ có hàng loạt hiệu ứng domino diễn ra. Và đương nhiên khi đó hàng loạt các đại gia khác tại châu Âu đang lo sợ về một cuộc tháo chạy ồ ạt về sân Bernabeu để làm nên một Real hoàn hảo về mọi mặt.

    Sức hút từ Mourinho!

    Có thể khẳng định, Mourinho đi đến đâu cũng đều để lại được sự khâm phục của các học trò về tài năng, cá tính của mình. Chính vì thế, mỗi khi ông chuyển CLB luôn có hàng tá các học trò đăng đàn nói rằng muốn theo chân ông thầy cũ của mình. Trước kia khi đến Chelsea, “người đặc biệt” đã lôi được những Carvalho, Ferreira từ Porto về sân Stamford Bridge. Sau đó khi đến Inter, những Drogba, Lampard, Carvalho cũng không ít lần tuyên bố muốn theo chân thầy cũ đến Italia. Còn hiện tại, những Maicon, Milito cũng không ngần ngại tháo chạy khỏi Giuseppe Meazza để được thi đấu dưới sự chỉ đạo của “người đặc biệt”.


    Chính vì thế, hàng loạt các đại gia tại châu Âu đang lo ngay ngáy về việc mất người. Chelsea với những Drogba, Lampard, Ashley Cole luôn muốn tái ngộ với ông thầy cũ, hay Maicon, Milito, Lucio cũng muốn chia tay Inter trong vinh quang để được chơi bóng cho CLB vĩ đại nhất thế kỷ 20. Ngoài ra, những Torres, Gerrard của Liverpool, Di Maria của Benfica cũng đang trong tầm ngắm của Real và Mou…

    Rõ ràng, chỉ cần nhắc đến những cái tên vừa kể trên thì nếu điều đó thành sự thực, Real sẽ được tăng cường lực lượng đáng kể để cân bằng giữa công và thủ, để biến Los Blancos trở thành một đội bóng hoàn hảo dưới sự chỉ đạo của HLV tài năng nhất thế giới hiện nay Jose Mourinho.
    [IMG]
    Real – Mourinho, cặp đôi hoàn hảo để thống trị thế giới!

    Không còn nghi ngờ gì nữa, với những danh hiệu trong sự nghiệp cầm quân của mình, đặc biệt là những gì đã làm được với Inter mùa giải vừa qua, Mourinho chính là vị HLV xuất sắc nhất thế giới vào thời điểm hiện tại. Tư duy chiến thuật nhạy bén, khả năng đọc tình huống, thay người chiến thuật của “người đặc biệt” thuộc loại thượng thừa. Đặc biệt, tính cách ngông cuồng với những phát biểu lộng ngôn của Mou luôn giúp các học trò giảm được áp lực. Ngoài ra, sự cứng rắn và tài năng của vị chiến lược gia người Bồ Đào Nha luôn khiến bất cứ ngôi sao nào cũng phải nể phục để thi đấu theo đúng những gì mà ông đề ra.

    Còn với Real, đây quả thực là một sức hút khó cưỡng với bất kì cầu thủ nào. Danh tiếng, tiền bạc là điều mà Los Blancos không thiếu nên đây sẽ là điểm đến lý tưởng cho các ngôi sao hàng đầu thế giới. Còn gì tuyệt vời hơn khi được thi đấu cho đội bóng vĩ đại nhất thế giới thể kỷ 20 và được làm việc với vị HLV tài năng như Jose Mourinho.

    Mourinho, chiến lược gia tài năng nhất thế giới hiện nay!


    Thế nên, việc Mourinho – Real kết thân quả thực là một mối lương duyên hoàn hảo bởi từ đó sẽ xuất hiện một đoàn quân toàn diện về mọi mặt giữa công và thủ bởi với “người đặc biệt” thì chiến thắng mới là điều quan trọng chứ không phải là lối chơi. Nhiệm vụ đầu tiên của Mou tại Real sẽ là lật đổ sự thống trị của Barca tại Liga, điều mà ông đã làm được với Inter khi loại gã khổng lồ xứ Catalan tại bán kết Champions League mùa giải vừa qua. Tiếp đó, một nhiệm vụ không kém phần quan trọng đó là việc đưa Los Blancos trở lại là một thế lực tại châu Âu, điều mà đã 8 năm qua Real không một lần được hưởng hương vị chiến thắng dù đã 9 lần đang quang tại giải đấu hấp dẫn nhất châu Âu (trước đây là Cup C1 còn hiện tại là Champions League).

    Sẽ không dễ để Mourinho thành công tại Real bởi điều đó còn phụ thuộc vào nhiều vấn đề khác. Nhưng với các madridista thì đây quả thực là một sự kết hợp hoàn hảo để đội bóng Hoàng gia Tây Ban Nha tìm lại ánh hào quang xưa. Một hiệu ứng domino sẽ diễn ra khi Mourinho đến Real và cả châu Âu sẽ run sợ bởi đó quả thực là một sự kết hợp không thể tốt hơn. Song kiếm hợp bích Real – Mourinho!





    [IMG]
    Đội hình Real Marid mùa giải 2010/2011



    1 TM
    Iker Casillas (đội trưởng) [IMG]
    2 HV
    Ricardo Carvalho
    [IMG]

    3 HV
    Pepe
    [IMG]

    4 HV
    Sergio Ramos (đội phó) [IMG]
    5 TV
    Fernando Gago
    [IMG]

    6 TV
    Mahamadou Diarra [IMG]

    7 TĐ
    Cristiano Ronaldo [IMG]
    8 TV
    Kaká
    [IMG]

    9 TĐ
    Karim Benzema
    [IMG]

    10 TV
    Lassana Diarra [IMG]

    11 TV
    Esteban Granero
    [IMG]

    12 HV
    Marcelo
    [IMG]

    13 TM
    Antonio Adán
    [IMG]

    14 TV
    Xabi Alonso
    [IMG]

    15 HV
    David Mateos
    [IMG]

    16 TV
    Sergio Canales
    [IMG]

    17 HV
    Álvaro Arbeloa
    [IMG]

    18 HV
    Raúl Albiol
    [IMG]

    19 HV
    Ezequiel Garay
    [IMG]
    20 TĐ
    Gonzalo Higuaín [IMG]

    21 TV
    Pedro León
    [IMG]
    22 TV
    Ángel di María [IMG]
    23 TV
    Mesut Özil [IMG]

    24 TV
    Sami Khedira
    [IMG]

    25 TM
    Jerzy Dudek
    [IMG]
  2. MrGoodbye

    • Member

    Làm thành viên từ: 21 Tháng năm 2011
    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 1
    Ronaldo: Bước vào ngôi đền huyền thoại
    Các madridista thực sự được mãn nhãn khi xem xong 4 tập phim mới nhất do Ronaldo thủ vai chính. Thành tích ghi bàn ấn tượng của ngôi sao người Bồ Đào Nha giúp anh mở cánh cửa ngôi đền huyền thoại dành cho những chân sút xuất sắc nhất ở La Liga.
    Quay trở lại giải bóng đá Tây Ban Nha vào ngày 8/5, trên sân Ramon Sanchez Pizjuan của Sevilla, Ronaldo có màn ra mắt trong serie phim 4 tập do mình thủ vai chính một cách không thể ấn tượng hơn. CĐV Real chứng kiến trận đấu giữa đội nhà với Sevilla đã không thể tin vào mắt mình khi CR7 ghi tới 4 bàn vào lưới đối phương. Không để những người yêu mến phải thất vọng, tuyển thủ người Bồ Đào Nha tiếp tục đem lại cho khán giả có mặt trên sân Bernabeu theo dõi trận đấu giữa đội bóng Hoàng gia với Getafe những cung bậc cảm xúc khó tả nhất. Lập cú hattrick trong chiến thắng 4-0 của Kền kền trắng trước đội khách giúp Ronaldo bỏ xa Messi trong cuộc đua giành danh hiệu vua phá lưới tại La Liga mùa giải năm nay.


    [IMG]


    Ronaldo chinh phục cột mốc 40 bàn/mùa

    Lúc này, số bàn thắng của Ronaldo đã là 37 (tính cả cú sút đập lưng Pepe vào lưới Sociedad hồi đầu mùa). Ở thời điểm đó, các madridista đã đặt ra câu hỏi liệu CR7 có phá được kỷ lục ghi bàn của hai huyền thoại Telmo Zarra và Hugo Sanchez (cùng ghi 38 bàn trong một mùa giải) hay không? Không để khán giả phải ngóng đợi lâu, bởi trong chuyến làm khách tới sân Villarreal, cựu cầu thủ MU có hai pha ghi bàn qua đó nâng tổng số lần lập công của mình lên con số 39. Điều đó đồng nghĩa với việc sau 21 năm, hậu bối của Hugo Sanchez ở Real đã thiết lập nên kỷ lục mới.Với tâm lí thoải mái, Ronaldo cùng đồng đội bước vào trận đấu ở vòng 38 gặp Almeria. Cầu thủ đắt giá nhất hành tinh tiếp tục thể hiện màn công phá hàng thủ đối phương bằng 2 pha lập công để phá sâu hơn nữa kỷ lục ghi bàn của chính bản thân vừa lập ở vòng đấu trước. Ghi 41 bàn thắng trong 34 trận ra sân trong màu áo Real, Ronaldo trở thành cầu thủ xuyên thủng hàng phòng ngự đối phương nhiều nhất trong một mùa giải tại La Liga. Theo đó, kỷ lục được CR7 thiết lập chắc chắn sẽ còn rất lâu nữa mới bị phá vỡ.
    Về phương diện thành tích ở CLB, Ronaldo có thể chưa hài lòng khi chỉ cùng Real giành được Cup nhà vua. Nhưng xét về những danh hiệu cá nhân, thủ quân của ĐT Bồ Đào Nha xứng đáng được trao giải Vua phá lưới tại La Liga và chiếc giày vàng châu Âu. Ở tuổi 26 khi tài năng đạt tới độ chín nhất, Ronaldo hoàn toàn có thể nghĩ tới những kỷ lục mới. Các madridista hi vọng cầu thủ đắt giá nhất hành tinh sẽ giúp đội bóng Hoàng gia gặt hái nhiều thành tích hơn nữa ở những mùa giải tới.
    (Theo Goal/thethaovanhoa)
  3. MrGoodbye

    • Member

    Làm thành viên từ: 21 Tháng năm 2011
    Số bài viết: 0
    Đã được thích: 0
    Điểm thành tích: 1
    Real Madrid - Almeria 8-1

    Bầy Kền Kền trắng đã khép lại mùa giải 2011 bằng chiến thắng huỷ diệ đối thủ Real Almeria


    [PLAY]http://www.youtube.com/watch?v=-CRRiFs3baA[/PLAY]


    Ghi bàn:

    Real: Ronaldo 4', 77'; Benzema 48', 63'; Adebayor 31', 52', 73'; Joselu 87'
    Almeria: Uche 33'

Chia sẻ trang này